Sarvetil

Sarvetil

Rx Thuốc này chỉ dùng theo đơn thuốc

Để xa tầm tay trẻ em

Đọc kỹ hướng dẫn sử dụng trước khi dùng

THÀNH PHẦN

Mỗi viên nén chứa:

Thành phần hoạt chất:

Lisinopril (dưới dạng lisinopril dihydrate) 10 mg

Thành phần tá dược:

Mannitol, calcium hydrogen phosphate dihydrate, pregelatinised starch, croscarmellose sodium, Pigment blend PB-24823 brown, magnesium stearate.

Thành phần của Pigment blend PB-24823 Reddish brown: Pregelatinized starch, iron oxide red, ferrosoferric oxide/black iron oxide, iron oxide yellow.

DẠNG BÀO CHẾ

Viên nén hình tròn, màu hồng nhạt, hai mặt lồi, một mặt trơn và một mặt có khắc vạch ngang.

CHỈ ĐỊNH

Tăng huyết áp

Điều trị tăng huyết áp.

Suy tim

Điều trị suy tim có triệu chứng.

Nhồi máu cơ tim cấp

Điều trị ngắn hạn (6 tuần) ở bệnh nhân có huyết động học ổn định trong vòng 24 giờ đầu ở cơn nhồi máu cơ tim cấp.

Biến chứng trên thận của bệnh đái tháo đường

Điều trị bệnh thận ở bệnh nhân tăng huyết áp đái tháo đường týp 2 và bệnh thận mới khởi phát (xem phần Đặc tính dược lực học).

LIỀU DÙNG, CÁCH DÙNG

Nên uống lisinopril một lần duy nhất mỗi ngày. Cũng như các thuốc khác dùng một lần duy nhất trong ngày, Sarvetil nên được uống ở cùng thời điểm trong ngày. Thức ăn không ảnh hưởng đến sự hấp thu của viên nén Sarvetil.

Liều lượng tùy thuộc theo tình trạng và đáp ứng huyết áp của từng cá nhân (xem phần Cảnh báo và thận trọng khi dùng thuốc).

Không bẻ đôi viên thuốc. Bệnh nhân nên được chỉ định thuốc có dạng bào chế với hàm lượng thích hợp với liều dùng được chỉ định.

Tăng huyết áp

Sarvetil có thể dùng riêng lẻ hoặc kết hợp với các nhóm thuốc trị tăng huyết áp khác (xem phần Chống chỉ định, Cảnh báo và thận trọng khi dùng thuốc, Tương tác, tương kỵ của thuốc và Đặc tính dược lực học).

Liều khởi đầu

Ở bệnh nhân tăng huyết áp, liều khởi đầu được khuyến cáo là 10 mg. Bệnh nhân có hệ renin-angiotensin-aldosterone hoạt động mạnh (đặc biệt ở bệnh nhân tăng huyết áp do bệnh lý mạch máu-thận, thiếu nước và/hoặc thiếu muối, suy tim mất bù hoặc tăng huyết áp trầm trọng) có thể bị hạ huyết áp quá mức sau khi dùng liều khởi đầu. Nên dùng liều khởi đầu 2,5 – 5 mg cho các bệnh nhân này và cần có sự theo dõi của bác sỹ. Cần dùng liều khởi đầu thấp hơn ở bệnh nhân có tổn thương thận (xem Bảng 1 dưới đây).

Liều duy trì

Liều duy trì thông thường có hiệu quả là 20 mg, uống một lần duy nhất mỗi ngày. Nói chung, nếu không đạt được hiệu quả điều trị mong muốn sau 2 – 4 tuần với liều điều trị nào đó thì có thể tăng liều. Liều tối đa trong các thử nghiệm lâm sàng dài hạn có đối chứng là 80 mg/ngày.

Bệnh nhân đang dùng thuốc lợi tiểu

Hạ huyết áp có triệu chứng có thể xảy ra khi bắt đầu điều trị với lisinopril. Điều này dễ xảy ra hơn ở bệnh nhân đang được điều trị đồng thời với thuốc lợi tiểu. Do đó phải thận trọng vì những bệnh nhân này có thể đang thiếu nước và/hoặc muối. Nếu được, nên ngưng thuốc lợi tiểu 2 – 3 ngày trước khi bắt đầu điều trị với Sarvetil. Ở bệnh nhân tăng huyết áp không thể ngưng thuốc lợi tiểu, nên dùng lisinopril với liều khởi đầu 5 mg. Nên theo dõi chức năng thận và lượng kali huyết thanh. Liều lisinopril tiếp theo nên điều chỉnh tùy theo đáp ứng của huyết áp. Nếu cần thiết, có thể tiếp tục dùng thuốc lợi tiểu (xem phần Cảnh báo và thận trọng khi dùng thuốc và Tương tác, tương kỵ của thuốc).

Điều chỉnh liều ở bệnh nhân suy thận

Liều ở bệnh nhân suy thận phải được dựa trên độ thanh thải creatinine như mô tả ở bảng 1 dưới đây.

Bảng 1. Liều điều chỉnh ở bệnh nhân suy thận

Độ thanh thải creatinine

(mL/phút)

Liều khởi đầu (mg/ngày)
Ít hơn 10 mL/phút

(kể cả bệnh nhân thẩm phân)

2,5 mg*
10 – 30 mL/phút2,5 – 5 mg
31 – 80 mL/phút5 – 10 mg

*Liều và/hoặc số lần dùng thuốc cần được điều chỉnh theo đáp ứng của huyết áp.

Liều có thể được điều chỉnh tăng dần cho đến khi huyết áp được kiểm soát hoặc tới liều tối đa 40 mg/ngày.

Sử dụng trên trẻ em bị bệnh cao huyết áp từ 6 – 16 tuổi

Liều khởi đầu khuyến cáo là 2,5 mg một lần mỗi ngày ở bệnh nhân có cân nặng từ 20 kg đến < 50 kg, và 5 mg một lần mỗi ngày ở bệnh nhân ≥ 50 kg. Liều nên được điều chỉnh tùy theo cá thể đến tối đa 20 mg/ngày ở bệnh nhân có cân nặng từ 20 đến < 50 kg, và không quá 40 mg/ngày ở bệnh nhân ≥ 50 kg. Liều trên 0,61 mg/kg (hoặc vượt quá 40 mg/ngày) chưa được nghiên cứu ở trẻ em (xem phần Đặc tính dược lực học). Ở trẻ em có chức năng thận suy giảm, nên xem xét khởi đầu với liều thấp hơn hoặc xem xét tăng từng mức liều.

Suy tim

Ở bệnh nhân suy tim có triệu chứng, lisinopril nên được dùng như một liệu pháp hỗ trợ cho thuốc lợi tiểu và, khi thích hợp, có thể hỗ trợ cho digitalis hoặc thuốc chẹn bêta. Lisinopril có thể được sử dụng với liều khởi đầu 2,5 mg, 1 lần/ngày và nên uống khi có sự theo dõi của bác sỹ để xác định tác động lần đầu của thuốc lên huyết áp. Nên tăng liều lisinopril:

  • Từng mức không quá 10 mg.
  • Thời gian điều chỉnh liều không ít hơn 2 tuần.
  • Liều tối đa bệnh nhân có thể dung nạp lên đến 35 mg, 1 lần/ngày.

Việc điều chỉnh liều lượng phải được dựa trên đáp ứng lâm sàng của từng bệnh nhân.

Ở bệnh nhân có nguy cơ cao hạ huyết áp có triệu chứng, ví dụ bệnh nhân bị thiếu muối có hay không có giảm natri máu, bệnh nhân giảm thể tích tuần hoàn hoặc bệnh nhân đã được điều trị tích cực bằng thuốc lợi tiểu, các tình trạng bệnh này phải được điều trị, nếu được, trước khi điều trị với lisinopril. Nên theo dõi chức năng thận và kali huyết thanh (xem phần Cảnh báo và thận trọng khi dùng thuốc).

Nhồi máu cơ tim cấp

Nếu cần, bệnh nhân nên được điều trị bằng các phác đồ chuẩn như thuốc tan huyết khối, aspirin và thuốc chẹn bêta. Có thể dùng glyceryl trinitrate tiêm tĩnh mạch hoặc qua da cùng lúc với lisinopril.

Liều khởi đầu (3 ngày đầu tiên sau cơn nhồi máu cơ tim)

Điều trị bằng lisinopril có thể khởi đầu trong vòng 24 giờ từ khi khởi phát các triệu chứng. Việc điều trị không nên bắt đầu nếu huyết áp tâm thu thấp hơn 100 mm Hg. Liều khởi đầu của lisinopril là 5 mg đường uống, tiếp theo là 5 mg sau 24 giờ, 10 mg sau 48 giờ và 10 mg một lần/ngày cho các ngày sau đó. Bệnh nhân có huyết áp tâm thu thấp (≤ 120 mm Hg) khi khởi đầu điều trị hay trong vòng 3 ngày đầu tiên sau cơn nhồi máu cơ tim nên dùng liều thấp hơn 2,5 mg đường uống (xem phần Cảnh báo và thận trọng khi dùng thuốc).

Ở bệnh nhân suy thận (độ thanh thải creatinine < 80 mL/phút), liều khởi đầu Lisinopril nên được điều chỉnh tùy theo độ thanh thải creatinine (xem Bảng 1).

Liều duy trì

Liều duy trì là 10 mg, 1 lần/ngày. Nếu hạ huyết áp xảy ra (huyết áp tâm thu ≤ 100 mm Hg), liều duy trì hằng ngày 5 mg nên được giảm tạm thời xuống còn 2,5 mg nếu cần thiết. Nếu hạ huyết áp kéo dài xảy ra (huyết áp tâm thu thấp hơn 90 mm Hg kéo dài lâu hơn một giờ), nên ngưng dùng thuốc lisinopril.

Việc điều trị nên được tiếp tục trong 6 tuần và sau đó bệnh nhân nên được đánh giá lại. Bệnh nhân có các triệu chứng suy tim nên tiếp tục dùng lisinopril (Xem phần Liều lượng, cách dùng).

Biến chứng trên thận của bệnh đái tháo đường

Điều trị bệnh thận ở bệnh nhân tăng huyết áp đái tháo đường týp 2 và bệnh thận mới khởi phát liều hàng ngày là 10 mg lisinopril, 1 lần/ngày, có thể tăng lên 20 mg, 1 lần/ngày, nếu cần thiết, để đạt được huyết áp tâm trương ở tư thế ngồi dưới 90 mm Hg. Ở bệnh nhân suy thận (độ thanh thải creatinine < 80 mL/phút), liều khởi đầu lisinopril nên được điều chỉnh theo độ thanh thải creatinine (xem Bảng 1).

Trẻ em

Dữ liệu về tính an toàn và hiệu quả cho trẻ em trên 6 tuổi bị tăng huyết áp còn hạn chế. Không khuyến cáo sử dụng lisinopril cho trẻ em với chỉ định khác ngoài chỉ định tăng huyết áp (xem phần Đặc tính dược lực học).

Không khuyến cáo sử dụng lisinopril cho trẻ em dưới 6 tuổi hoặc trẻ bị suy thận nặng (độ lọc cầu thận GFR < 30 ml/phút/1,73m2) (xem phần Đặc tính dược động học).

Sử dụng thuốc ở người cao tuổi

Trong các nghiên cứu lâm sàng, không có thay đổi nào liên quan đến tuổi tác bệnh nhân về hiệu quả và tính an toàn của thuốc. Tuy nhiên, khi tuổi cao kèm theo giảm chức năng thận, nên tuân theo hướng dẫn ở bảng 1 để xác định liều khởi đầu của lisinopril. Sau đó, liều nên được điều chỉnh tùy theo đáp ứng của huyết áp.

Sử dụng trên bệnh nhân ghép thận

Chưa có kinh nghiệm về việc dùng lisinopril trên bệnh nhân mới ghép thận. Do vậy, không khuyến cáo dùng lisinopril trên các bệnh nhân này.

CHỐNG CHỈ ĐỊNH

Quá mẫn với lisinopril hoặc bất kỳ tá dược nào hoặc các thuốc ức chế men chuyển angiotensin (ACE) khác.

Có tiền sử phù mạch do dùng thuốc ức chế men chuyển.

Sử dụng đồng thời lisinopril với sacubitril/ valsartan. Lisinopril không được bắt đầu sớm hơn 36 giờ sau liều sacubitril/valsartan cuối cùng (xem phần Cảnh báo và thận trọng khi dùng thuốc và Tương tác, tương kỵ của thuốc).

Phù mạch di truyền hoặc vô căn.

Phụ nữ có thai ở 3 tháng giữa và cuối của thai kỳ (xem phần Cảnh báo và thận trọng khi dùng thuốc và Sử dụng thuốc cho phụ nữ có thai và cho con bú).

Dùng phối hợp với thuốc chứa aliskiren ở bệnh nhân đái tháo đường (týp I hoặc II) hoặc bệnh nhân suy thận trung bình đến nặng (GFR < 60 ml/phút/1,73m2). (xem phần Tương tác, tương kỵ của thuốc và Đặc tính dược lực học).

CẢNH BÁO VÀ THẬN TRỌNG KHI DÙNG THUỐC

Hạ huyết áp có triệu chứng

Hạ huyết áp có triệu chứng rất hiếm gặp ở bệnh nhân tăng huyết áp không có biến chứng. Ở bệnh nhân tăng huyết áp dùng lisinopril, hạ huyết áp có khuynh hướng dễ xảy ra nếu bệnh nhân bị giảm thể tích tuần hoàn, ví dụ do thuốc lợi tiểu, chế độ ăn hạn chế muối, thẩm phân, tiêu chảy hoặc nôn mửa hoặc tăng huyết áp nặng phụ thuộc renin (xem phần Tương tác, tương kỵ của thuốc và Tác dụng không mong muốn của thuốc). Ở bệnh nhân suy tim, có hay không có suy thận kèm theo, hạ huyết áp có triệu chứng cũng đã được ghi nhận. Điều này có nhiều khả năng xảy ra hơn ở bệnh nhân suy tim nặng, phản ánh qua việc dùng liều cao thuốc lợi tiểu quai, giảm natri máu hoặc suy giảm chức năng thận. Ở những bệnh nhân có nguy cơ cao bị hạ huyết áp có triệu chứng, việc khởi đầu điều trị và điều chỉnh liều cần được giám sát chặt chẽ. Những biện pháp tương tự cũng được áp dụng ở bệnh nhân có bệnh tim thiếu máu cục bộ hoặc bệnh mạch máu não, mà ở những bệnh nhân này hạ huyết áp quá mức có thể dẫn tới nhồi máu cơ tim hoặc tai biến mạch máu não.

Nếu hạ huyết áp xảy ra, phải để bệnh nhân nằm ngửa và, nếu cần, truyền tĩnh mạch dung dịch muối sinh lý. Hạ huyết áp thoáng qua không phải là yếu tố quyết định ngừng sử dụng những liều tiếp theo, những liều thuốc này có thể được sử dụng không có trở ngại khi huyết áp đã được tăng lên sau khi bù dịch.

Ở một số bệnh nhân suy tim có huyết áp bình thường hoặc thấp, huyết áp có thể hạ thấp hơn nữa khi dùng lisinopril. Tác dụng này đã được biết trước và thường không phải là lý do để ngưng thuốc. Nếu hạ huyết áp có triệu chứng, có thể cần phải giảm liều hoặc ngưng sử dụng lisinopril.

Hạ huyết áp trong nhồi máu cơ tim cấp

Không được khởi đầu điều trị với lisinopril cho bệnh nhân nhồi máu cơ tim cấp có nguy cơ bị rối loạn huyết động học trầm trọng sau khi điều trị với thuốc giãn mạch. Những bệnh nhân này có huyết áp tâm thu ≤ 100 mmHg hoặc sốc tim. Trong vòng ba ngày đầu tiên sau nhồi máu cơ tim, nên giảm liều nếu huyết áp tâm thu ≤ 120 mmHg. Cần giảm liều duy trì xuống 5 mg hoặc tạm thời xuống 2,5 mg nếu huyết áp tâm thu ≤ 100 mmHg. Nếu hạ huyết áp kéo dài (huyết áp tâm thu dưới 90 mmHg kéo dài hơn 1 giờ) phải ngưng dùng thuốc lisinopril.

Bệnh nhân mắc bệnh cơ tim phì đại/hẹp động mạch chủ và van hai lá

Giống như các thuốc ức chế men chuyển khác, nên thận trọng khi dùng lisinopril cho bệnh nhân hẹp van hai lá và nghẽn dòng máu ra khỏi tâm thất trái như hẹp động mạch chủ hoặc bệnh cơ tim phì đại.

Tổn thương chức năng thận

Ở bệnh nhân suy thận (độ thanh thải creatinine < 80 mL/phút), liều khởi đầu lisinopril nên được điều chỉnh theo độ thanh thải creatinine của bệnh nhân (xem Bảng 1 trong phần Liều dùng, Cách dùng) và đáp ứng của bệnh nhân với trị liệu. Theo dõi thường quy lượng kali và creatinine ở các bệnh nhân này.

Ở bệnh nhân suy tim, hạ huyết áp sau khi dùng liều khởi đầu thuốc ức chế men chuyển có thể làm nặng thêm tình trạng tổn thương chức năng thận. Suy thận cấp, thường có thể hồi phục, đã được ghi nhận trong trường hợp này.

Ở một số bệnh nhân hẹp động mạch thận 2 bên hoặc 1 bên, được điều trị với thuốc ức chế men chuyển, đã ghi nhận có sự gia tăng urê huyết và creatinine huyết thanh, thường sẽ hồi phục khi ngưng điều trị. Điều này đặc biệt dễ xảy ra ở bệnh nhân suy thận. Nếu tăng huyết áp do bệnh lý mạch máu thận cũng hiện diện thì làm tăng nguy cơ hạ huyết áp nặng và suy thận. Ở những bệnh nhân này, nên bắt đầu điều trị ở liều thấp dưới sự giám sát chặt chẽ và điều chỉnh liều cẩn thận.

Vì việc điều trị với thuốc lợi tiểu có thể là một yếu tố góp phần gây ra tình trạng nói trên, nên ngưng dùng những thuốc này và theo dõi chức năng thận trong những tuần đầu tiên điều trị với lisinopril.

Một số bệnh nhân tăng huyết áp mà không có bệnh lý mạch máu thận rõ rệt trước đó có hiện tượng tăng urê huyết và creatinine huyết thanh, thường nhẹ và thoáng qua, đặc biệt khi lisinopril được dùng đồng thời với thuốc lợi tiểu. Điều này thường có khả năng xảy ra hơn ở bệnh nhân có suy năng thận trước đó. Có thể cần giảm liều và/hoặc ngưng thuốc lợi tiểu và/hoặc lisinopril.

Trong nhồi máu cơ tim cấp, không nên điều trị khởi đầu với lisinopril ở bệnh nhân có biểu hiện rối loạn chức năng thận, được cho là khi nồng độ creatinine huyết thanh vượt quá 177 micromol/lít và/hoặc protein niệu vượt quá 500 mg/24 giờ. Nếu rối loạn chức năng thận tiến triển trong quá trình điều trị với lisinopril (nồng độ creatinine huyết thanh vượt quá 265 micromol/lít hay gấp đôi so với các trị số trước khi điều trị) thì nên xem xét đến việc ngưng dùng lisinopril.

Quá mẫn/Phù mạch

Phù mạch ở mặt, tay chân, môi, lưỡi, thanh môn và/hoặc thanh quản đã được ghi nhận nhưng hiếm ở bệnh nhân được điều trị với thuốc ức chế men chuyển, bao gồm lisinopril. Triệu chứng này có thể xảy ra tại bất kỳ thời điểm nào trong khi điều trị. Trong trường hợp này, cần ngưng dùng lisinopril ngay lập tức và tiến hành điều trị và theo dõi để đảm bảo rằng các triệu chứng được xử trí dứt điểm trước khi bệnh nhân xuất viện. Ngay cả trong trường hợp sưng phù chỉ khu trú ở lưỡi, không gây suy hô hấp, bệnh nhân cũng cần được tiếp tục theo dõi vì việc điều trị bằng thuốc kháng histamin và corticosteroid có thể không đáp ứng đầy đủ.

Đã có ghi nhận tử vong do phù mạch liên quan đến phù thanh quản hoặc phù lưỡi nhưng rất hiếm. Bệnh nhân phù ở lưỡi, thanh môn hoặc thanh quản có thể bị tắc nghẽn đường hô hấp, đặc biệt ở những người có tiền sử phẫu thuật đường hô hấp. Trong những trường hợp này, cần điều trị cấp cứu ngay. Trường hợp này có thể sử dụng adrenaline và/hoặc duy trì thông thoáng đường hô hấp. Cần theo dõi bệnh nhân cẩn thận cho đến khi triệu chứng được xử trí dứt điểm và ổn định.

Thuốc ức chế men chuyển gây phù mạch ở người da đen với tỷ lệ cao hơn ở người có màu da khác.

Những bệnh nhân có tiền sử phù mạch không do sử dụng thuốc ức chế men chuyển có thể có nguy cơ cao bị phù mạch khi dùng thuốc ức chế men chuyển (xem phần Chống chỉ định).

Không sử dụng đồng thời thuốc ức chế men chuyển với sacubitril/valsartan do tăng nguy cơ phù mạch. Không được bắt đầu điều trị bằng sacubitril/valsartan sớm hơn 36 giờ sau liều lisinopril cuối cùng. Không được bắt đầu điều trị bằng lisinopril sớm hơn 36 giờ sau liều sacubitril/valsartan cuối cùng (xem phần Chống chỉ định và Tương tác, tương kỵ của thuốc).

Sử dụng đồng thời thuốc ức chế men chuyển với racecadotril, thuốc ức chế mTOR (ví dụ sirolimus, everolimus, temsirolimus) và vildagliptin có thể dẫn đến tăng nguy cơ phù mạch (ví dụ sưng đường hô hấp hoặc lưỡi, có hoặc không có suy hô hấp) (xem phần Tương tác, tương kỵ của thuốc). Cần thận trọng khi bắt đầu dùng racecadotril, thuốc ức chế mTOR (ví dụ sirolimus, everolimus, temsirolimus) và vildagliptin ở bệnh nhân đang dùng thuốc ức chế men chuyển.

Phản ứng dạng phản vệ ở bệnh nhân thẩm phân máu

Các phản ứng dạng phản vệ đã được ghi nhận ở bệnh nhân thẩm phân máu với màng thẩm phân có tốc độ thẩm phân cao (như AN 69) và điều trị đồng thời với một thuốc ức chế men chuyển. Ở những bệnh nhân này cần xem xét việc sử dụng một loại màng thẩm phân khác hoặc nhóm thuốc điều trị tăng huyết áp khác.

Phản ứng dạng phản vệ khi ly trích lipoprotein tỷ trọng thấp (LDL)

Ở vài trường hợp hiếm, bệnh nhân đang dùng thuốc ức chế men chuyển trong khi ly trích lipoprotein tỷ trọng thấp (LDL) bằng dextran sulphate có thể có phản ứng dạng phản vệ đe dọa đến tính mạng. Các phản ứng này có thể tránh được khi tạm thời không dùng thuốc ức chế men chuyển trước mỗi lần ly trích.

Giải mẫn cảm

Bệnh nhân dùng thuốc ức chế men chuyển trong quá trình điều trị giải mẫn cảm (ví dụ nọc độc loài hymenoptera) đã có những phản ứng dạng phản vệ kéo dài. Cũng ở những bệnh nhân này, các phản ứng này có thể tránh được khi tạm ngưng thuốc ức chế men chuyển nhưng cũng đã xuất hiện lại khi vô tình sử dụng thuốc trở lại.

Suy gan

Ở một vài trường hợp rất hiếm, thuốc ức chế men chuyển có thể liên quan đến hội chứng khởi đầu là vàng da ứ mật và tiến triển thành hoại tử bạo phát và (đôi khi) gây tử vong. Cơ chế của hội chứng này chưa được biết rõ. Nên ngưng dùng thuốc ở bệnh nhân xuất hiện triệu chứng vàng da hoặc tăng men gan rõ rệt khi dùng lisinopril và cần có sự theo dõi của bác sỹ.

Giảm bạch cầu trung tính/ Mất bạch cầu hạt

Giảm bạch cầu/mất bạch cầu hạt, giảm tiểu cầu và thiếu máu đã được ghi nhận ở bệnh nhân dùng thuốc ức chế men chuyển. Hiếm khi xảy ra giảm bạch cầu trung tính ở bệnh nhân có chức năng thận bình thường và không có các yếu tố biến chứng. Giảm bạch cầu trung tính và mất bạch cầu hạt có thể hồi phục sau khi ngưng dùng thuốc ức chế men chuyển. Nên dùng lisinopril một cách rất thận trọng ở bệnh nhân có bệnh mạch máu tạo keo, đang điều trị ức chế miễn dịch, đang dùng allopurinol hoặc procainamide, hoặc có sự kết hợp của các yếu tố biến chứng này, đặc biệt ở bệnh nhân có suy giảm chức năng thận trước đó. Một số bệnh nhân này bị nhiễm khuẩn nghiêm trọng mà không đáp ứng với trị liệu kháng sinh tích cực. Nếu dùng lisinopril ở các bệnh nhân này, nên theo dõi định kỳ số lượng bạch cầu và phải yêu cầu bệnh nhân báo cáo ngay nếu có bất cứ dấu hiệu nhiễm khuẩn nào.

Phong bế kép hệ renin-angiotensin-aldosteron (RAAS)

Có bằng chứng cho thấy sử dụng đồng thời các thuốc ức chế men chuyển, thuốc chẹn thụ thể angiotensin II hoặc aliskiren làm tăng nguy cơ hạ huyết áp, tăng kali máu và suy giảm chức năng thận (bao gồm suy thận cấp). Do đó, không khuyến cáo phong bế kép hệ RAAS thông qua việc sử dụng đồng thời thuốc ức chế men chuyển, thuốc chẹn thụ thể angiotensin II hoặc aliskiren (xem phần Tương tác, tương kỵ của thuốc và Đặc tính dược lực học).

Nếu buộc phải dùng phác đồ phong bế kép, quá trình điều trị cần được giám sát bởi bác sĩ chuyên khoa và theo dõi chặt chẽ huyết áp, chức năng thận và điện giải.

Không nên sử dụng đồng thời thuốc ức chế men chuyển và thuốc chẹn thụ thể angiotensin II trên bệnh nhân mắc bệnh thận đái tháo đường.

Chủng tộc

Thuốc ức chế men chuyển gây phù mạch ở người da đen với tỉ lệ cao hơn ở người màu da.

Cũng như các thuốc ức chế men chuyển khác, lisinopril có thể ít có tác động hạ huyết áp trên bệnh nhân da đen so với trên các nhóm bệnh nhân khác, có thể là do tình trạng renin thấp chiếm tỷ lệ cao ở nhóm bệnh nhân da đen tăng huyết áp.

Ho

Ho đã được ghi nhận khi sử dụng thuốc ức chế men chuyển. Điển hình là ho khan, dai dẳng và tự hồi phục khi ngưng thuốc. Ho do thuốc ức chế men chuyển phải được xem xét khi chẩn đoán phân biệt nguyên nhân gây ho.

Phẫu thuật/Gây mê

Ở bệnh nhân đại phẫu hoặc trong khi gây mê bằng các thuốc dẫn đến hạ huyết áp, lisinopril có thể ức chế sự tạo thành angiotensin II thứ phát do phóng thích renin bù trừ. Nếu hạ huyết áp xảy ra và được cho là do cơ chế này thì có thể điều chỉnh bằng cách bồi hoàn thể tích tuần hoàn.

Tăng kali máu

Tăng kali huyết thanh đã được ghi nhận trên một số bệnh nhân được điều trị bằng các thuốc ức chế men chuyển do ức chế giải phóng aldosterone. Tác dụng này thường không đáng kể ở bệnh nhân có chức năng thận bình thường. Tuy nhiên, ở những bệnh nhân bị suy thận, đái tháo đường và/hoặc ở những bệnh nhân dùng thuốc bổ sung kali (bao gồm cả muối thay thế), thuốc lợi tiểu giữ kali (ví dụ spironolactone, triamterene hoặc amiloride), các thuốc khác có liên quan đến tăng kali huyết thanh (ví dụ heparin, trimethoprim hoặc co-trimoxazole còn được gọi là trimethoprim/sulfamethoxazole) và đặc biệt là thuốc đối kháng aldosterone hoặc thuốc ức chế thụ thể angiotensin, có thể xảy ra tăng kali máu. Thuốc lợi tiểu giữ kali và thuốc ức chế thụ thể angiotensin nên được sử dụng thận trọng ở những bệnh nhân dùng thuốc ức chế men chuyển, đồng thời cần theo dõi nồng độ kali huyết thanh và chức năng thận (xem phần Tương tác, tương kỵ của thuốc).

Bệnh nhân đái tháo đường

Bệnh nhân đái tháo đường đang dùng thuốc uống trị đái tháo đường hoặc insulin, nên kiểm soát chặt chẽ mức đường huyết trong tháng đầu điều trị bằng thuốc ức chế men chuyển (xem phần Tương tác, tương kỵ của thuốc).

Lithi

Nói chung không khuyến cáo kết hợp lithi với lisinopril (xem phần Tương tác, tương kỵ của thuốc).

Phụ nữ có thai

Không nên sử dụng thuốc ức chế men chuyển trong thai kỳ. Trừ trường hợp bắt buộc phải tiếp tục sử dụng thuốc ức chế men chuyển, các bệnh nhân có dự định mang thai cần được đổi sang thuốc trị tăng huyết áp khác đã được xác định là an toàn để sử dụng trong thai kỳ. Khi đã xác định mang thai, cần ngừng sử dụng thuốc (xem phần Chống chỉ định và Sử dụng thuốc cho phụ nữ có thai và cho con bú).

SỬ DỤNG THUỐC CHO PHỤ NỮ CÓ THAI VÀ CHO CON BÚ

Phụ nữ có thai

Không nên dùng lisinopril trong 3 tháng đầu của thai kỳ (xem phần Cảnh báo và thận trọng khi dùng thuốc). Chống chỉ định sử dụng thuốc ức chế men chuyển trong 3 tháng giữa và 3 tháng cuối của thai kỳ (xem phần Chống chỉ định và Cảnh báo và thận trọng khi dùng thuốc).

Bằng chứng dịch tễ học về nguy cơ gây quái thai sau khi tiếp xúc với thuốc ức chế men chuyển trong ba tháng đầu của thai kỳ vẫn chưa được kết luận; tuy nhiên không thể loại trừ sự gia tăng nhỏ về rủi ro. Trừ khi việc tiếp tục điều trị bằng thuốc ức chế men chuyển được cho là cần thiết, bệnh nhân dự định mang thai nên chuyển sang phương pháp điều trị hạ huyết áp thay thế đã được chứng minh là an toàn khi sử dụng trong thai kỳ. Khi được chẩn đoán có thai, nên ngừng điều trị bằng thuốc ức chế men chuyển ngay lập tức và nếu thích hợp, nên bắt đầu liệu pháp thay thế.

Dùng thuốc ức chế men chuyển trong 3 tháng giữa và 3 tháng cuối của thai kỳ đã biết gây độc trên bào thai người (giảm chức năng thận, thiểu ối, chậm cốt hóa xương sọ) và độc tính trên trẻ sơ sinh (suy thận, hạ huyết áp, tăng kali huyết). (Xem phần Dữ liệu an toàn tiền lâm sàng).

Nếu xảy ra trường hợp dùng lisinopril trong 3 tháng giữa của thai kỳ, nên siêu âm kiểm tra chức năng thận và hộp sọ.

Trẻ nhũ nhi có mẹ dùng thuốc ức chế men chuyển nên được theo dõi chặt chẽ đề phòng hạ huyết áp (xem phần Chống chỉ định và Cảnh báo và thận trọng khi dùng thuốc).

Phụ nữ đang cho con bú

Do không có thông tin liên quan đến việc sử dụng lisinopril trong thời gian cho con bú, nên không khuyến cáo sử dụng lisinopril và ưu tiên liệu pháp điều trị thay thế đã được chứng minh an toàn trong thời kỳ cho con bú, đặc biệt là khi đang nuôi con sơ sinh hoặc trẻ sinh non.

ẢNH HƯỞNG CỦA THUỐC LÊN KHẢ NĂNG LÁI XE, VẬN HÀNH MÁY MÓC

Khi lái xe hoặc vận hành máy, thỉnh thoảng có thể xảy ra chóng mặt hoặc mệt mỏi.

TƯƠNG TÁC, TƯƠNG KỴ CỦA THUỐC

Các thuốc điều trị tăng huyết áp

Khi phối hợp với các thuốc điều trị tăng huyết áp khác (ví dụ glyceryl trinitrate và các nitrate khác hoặc các thuốc giãn mạch khác), tình trạng huyết áp hạ nhiều hơn có thể xảy ra.

Dữ liệu thử nghiệm lâm sàng đã chỉ ra rằng việc phong bế kép hệ thống renin-angiotensin-aldosterone (RAAS) thông qua việc sử dụng kết hợp thuốc ức chế men chuyển, thuốc ức chế thụ thể angiotensin II hoặc aliskiren có liên quan đến tần suất tác dụng không mong muốn cao hơn như hạ huyết áp, tăng kali máu và giảm chức năng thận (bao gồm suy thận cấp) so với việc sử dụng một thuốc tác dụng RAAS đơn lẻ (xem phần Chống chỉ định, Cảnh báo và thận trọng khi dùng thuốc và Đặc tính dược lực học).

Thuốc làm tăng nguy cơ phù mạch

Chống chỉ định dùng đồng thời thuốc ức chế men chuyển với sacubitril/valsartan vì làm tăng nguy cơ phù mạch (xem phần Chống chỉ định và Cảnh báo và thận trọng khi dùng thuốc).

Điều trị đồng thời thuốc ức chế men chuyển với thuốc ức chế tại đích của rapamycin ở động vật có vú (mTOR) (ví dụ temsirolimus, sirolimus, everolimus) hoặc thuốc ức chế endpeptidase trung tính (NEP) (ví dụ racecadotril), vildagliptin hoặc chất kích hoạt plasminogen mô có thể làm tăng nguy cơ phù mạch (ví dụ sưng đường hô hấp hoặc lưỡi, có hoặc không có suy hô hấp) (xem phần Cảnh báo và thận trọng khi dùng thuốc).

Thuốc lợi tiểu

Khi thêm một thuốc lợi tiểu vào phác đồ điều trị của bệnh nhân đang sử dụng lisinopril, tác dụng điều trị tăng huyết áp thường tăng thêm.

Bệnh nhân đang dùng thuốc lợi tiểu và đặc biệt là những bệnh nhân mới dùng thuốc lợi tiểu, đôi khi bị hạ huyết áp quá mức khi dùng thêm lisinopril. Khả năng bị hạ huyết áp có triệu chứng với lisinopril có thể được giảm tối thiểu bằng cách ngưng thuốc lợi tiểu trước khi bắt đầu điều trị với lisinopril (Xem phần Cảnh báo và thận trọng khi dùng thuốc và Liều dùng, cách dùng).

Chất bổ sung kali, thuốc lợi tiểu giữ kali hoặc các chất thay thế muối chứa kali và các thuốc làm tăng kali huyết thanh

Mặc dù nồng độ kali trong huyết thanh thường ở trong mức giới hạn, tình trạng tăng kali huyết đã xảy ra ở một số bệnh nhân khi điều trị bằng lisinopril. Dùng thuốc lợi tiểu giữ kali (như spironolactone, triamterene hoặc amiloride), chất bổ sung kali hoặc chất thay thế muối chứa kali, đặc biệt ở bệnh nhân suy thận, có thể dẫn đến nồng độ kali huyết thanh tăng đáng kể. Thận trọng khi dùng lisinopril đồng thời với các thuốc làm tăng kali huyết thanh như trimethoprim và co-trimoxazole (trimethoprim/sulfamethoxazole) vì trimethoprim được biết là có tác dụng như thuốc lợi tiểu tiết kiệm kali như amiloride. Do đó, không khuyến cáo kết hợp lisinopril với các loại thuốc nêu trên.

Nếu được chỉ định dùng đồng thời, nên thận trọng và thường xuyên theo dõi nồng độ kali huyết thanh.

Nếu dùng lisinopril chung với thuốc lợi tiểu mất kali, sự giảm kali huyết gây ra do thuốc lợi tiểu có thể được cải thiện.

Ciclosporin

Tăng kali huyết có thể xảy ra khi sử dụng đồng thời thuốc ức chế men chuyển với ciclosporin.

Khuyến cáo theo dõi nồng độ kali huyết thanh.

Heparin

Tăng kali huyết có thể xảy ra khi sử dụng đồng thời thuốc ức chế men chuyển với heparin.

Khuyến cáo theo dõi nồng độ kali huyết thanh.

Lithi

Sự gia tăng nồng độ và độc tính của lithi trong huyết thanh có hồi phục đã được ghi nhận khi dùng đồng thời lithi với thuốc ức chế men chuyển. Khi dùng chung với thuốc lợi tiểu thiazide có thể làm tăng nguy cơ độc tính của lithi. Không khuyến cáo dùng lisinopril chung với lithi, nhưng nếu cần thiết phải kết hợp thì phải theo dõi cẩn thận nồng độ lithi trong huyết thanh (xem phần Cảnh báo và thận trọng khi dùng thuốc).

Thuốc kháng viêm không steroid (NSAID) bao gồm acid acetylsalicylic ≥ 3 g/ngày

Khi dùng đồng thời thuốc ức chế men chuyển với thuốc kháng viêm không steroid (như acid acetylsalicylic ở liều chống viêm, thuốc ức chế COX-2 và NSAID không chọn lọc), tác dụng hạ huyết áp có thể bị suy giảm. Việc sử dụng đồng thời thuốc ức chế men chuyển và NSAID có thể làm tăng nguy cơ giảm chức năng thận, bao gồm cả suy thận cấp và tăng kali huyết thanh, đặc biệt ở những bệnh nhân có giảm chức năng thận trước đó. Những tác động này thường hồi phục. Nên thận trọng khi dùng phối hợp, đặc biệt ở người cao tuổi. Bệnh nhân cần được bù nước đầy đủ và cần cân nhắc theo dõi chức năng thận sau khi bắt đầu điều trị đồng thời và định kỳ sau đó.

Vàng

Phản ứng Nitritoid (triệu chứng của sự giãn mạch, mà có thể rất trầm trọng, bao gồm: đỏ bừng, buồn nôn, chóng mặt và hạ huyết áp) sau khi sử dụng vàng dạng tiêm (ví dụ: natri aurothiomalate) đã được ghi nhận thường xuyên xảy ra ở những bệnh nhân điều trị bằng thuốc ức chế men chuyển.

Thuốc chống trầm cảm ba vòng/Thuốc chống loạn thần/Thuốc gây mê

Khi dùng chung thuốc gây mê, thuốc chống trầm cảm ba vòng và thuốc chống loạn thần với thuốc ức chế men chuyển có thể dẫn đến hạ huyết áp nhiều hơn (xem phần Cảnh báo và thận trọng khi dùng thuốc).

Thuốc giống giao cảm

Thuốc giống giao cảm có thể làm giảm tác động điều trị tăng huyết áp của thuốc ức chế men chuyển.

Thuốc trị bệnh đái tháo đường

Các nghiên cứu dịch tễ học đề nghị rằng dùng đồng thời thuốc ức chế men chuyển và thuốc trị đái tháo đường (insulin, thuốc hạ đường huyết dạng uống) có thể làm tăng tác động hạ đường huyết với nguy cơ hạ đường huyết. Hiện tượng này dường như xảy ra nhiều hơn trong những tuần điều trị đầu tiên và ở bệnh nhân suy thận.

Acid acetylsalicylic, thuốc tan huyết khối, thuốc chẹn bêta, thuốc nhóm nitrate

Lisinopril có thể sử dụng đồng thời với acid acetylsalicylic (ở các liều dùng cho bệnh lý tim mạch), thuốc tan huyết khối, thuốc chẹn bêta và/hoặc nhóm nitrate.

Tương kỵ

Do không có các nghiên cứu về tính tương kỵ của thuốc, không trộn lẫn thuốc này với các thuốc khác.

TÁC DỤNG KHÔNG MONG MUỐN CỦA THUỐC

Các tác dụng không mong muốn sau đã được quan sát và ghi nhận trong khi dùng lisinopril và các thuốc ức chế men chuyển khác với tần xuất xảy ra như sau: Rất thường gặp (≥ 1/10), thường gặp (≥ 1/100 đến < 1/10), ít gặp (≥ 1/1.000 đến < 1/100), hiếm gặp (≥ 1/10.000 đến < 1/1.000), rất hiếm gặp (< 1/10.000), chưa biết (không thể ước lượng từ dữ liệu sẵn có).

Rối loạn máu và hệ bạch huyết

Hiếm gặp: Giảm haemoglobin, giảm haematocrit.

Rất hiếm gặp: Suy tủy xương, thiếu máu, giảm tiểu cầu, giảm bạch cầu, giảm bạch cầu trung tính, mất bạch cầu hạt (xem phần Cảnh báo và thận trọng khi dùng thuốc), thiếu máu tán huyết, bệnh hạch bạch huyết, bệnh tự miễn.

Rối loạn hệ thống miễn dịch

Chưa biết: Phản ứng phản vệ/dạng phản vệ.

Rối loạn chuyển hóa và dinh dưỡng

Rất hiếm gặp: Hạ đường huyết.

Rối loạn hệ thần kinh và tâm thần

Thường gặp: Chóng mặt, nhức đầu.

Ít gặp: Thay đổi khí mood, dị cảm, chóng mặt, rối loạn vị giác, rối loạn giấc ngủ, ảo giác.

Hiếm gặp: Lú lẫn tâm thần, rối loạn khứu giác.

Chưa biết: Triệu chứng trầm cảm, ngất.

Rối loạn tim mạch

Thường gặp: Tác động tư thế (kể cả hạ huyết áp).

Ít gặp: nhồi máu cơ tim hoặc tai biến mạch máu não, có thể thứ phát do hạ huyết áp quá mức ở bệnh nhân có nguy cơ cao (xem phần Cảnh báo và thận trọng khi dùng thuốc), hồi hộp, nhịp tim nhanh, hiện tượng Raynaud.

Rối loạn hô hấp, lồng ngực và trung thất

Thường gặp: Ho.

Ít gặp: Viêm mũi.

Rất hiếm gặp: Co thắt phế quản, viêm xoan, viêm phế nang do dị ứng/viêm phổi tăng bạch cầu ái toan.

Rối loạn tiêu hóa

Thường gặp: Tiêu chảy, buồn nôn.

Ít gặp: Nôn, đau bụng, khó tiêu.

Hiếm gặp: Khô miệng.

Rất hiếm gặp: Viêm tụy, phù mạch tại ruột, viêm tế bào gan hoặc viêm gan ứ mật, vàng da và suy gan (xem phần Cảnh báo và thận trọng khi dùng thuốc).

Rối loạn da và mô dưới da

Ít gặp: Phát ban, ngứa

Hiếm gặp: Nổi mẩn, ngứa, quá mẫn/phù thần kinh-mạch: phù thần kinh-mạch ở mặt, tay chân, môi, lưỡi, thanh môn và/hoặc thanh quản (xem phần Cảnh báo và thận trọng khi dùng thuốc).

Rất hiếm: Toát mồ hôi, bệnh pemphigus, hoại tử biểu bì gây độc, hội chứng Stevens-Johnson và hồng ban đa dạng, u lympho giả trên da.

Phức hợp triệu chứng đã được ghi nhận và có thể bao gồm một hoặc nhiều triệu chứng sau đây: sốt, viêm mạch máu, đau cơ, đau khớp/viêm khớp, kháng thể kháng nhân (ANA) dương tính, tăng vận tốc lắng máu (ESR), tăng bạch cầu ái toan, tăng bạch cầu, nổi mẩn, nhạy cảm ánh sáng hoặc các biểu hiện khác ở da có thể xảy ra.

Rối loạn thận và tiết niệu

Thường gặp: Rối loạn chức năng thận.

Hiếm gặp: Urê huyết, suy thận cấp.

Rất hiếm gặp: Thiểu niệu/vô niệu.

Rối loạn nội tiết

Hiếm gặp: Hội chứng tiết hormon chống bài niệu không thích hợp (SIADH).

Rối loạn hệ sinh sản và tuyến vú

Ít gặp: Bất lực.

Hiếm gặp: Nữ hóa tuyến vú.

Các rối loạn chung và tình trạng tại chỗ dùng thuốc

Ít gặp: Mệt mỏi, suy nhược.

Các kết quả xét nghiệm

Ít gặp: Tăng urê máu, tăng creatinine huyết thanh, tăng men gan, tăng kali máu.

Hiếm gặp: Tăng bilirubin huyết thanh, giảm natri máu.

Dữ liệu an toàn từ các nghiên cứu lâm sàng cho thấy lisinopril nói chung được dung nạp tốt ở trẻ em tăng huyết áp, do đó thông tin an toàn trong nhóm tuổi này là tương đương như khi quan sát ở người lớn.

Thông báo ngay cho bác sĩ hoặc dược sĩ những phản ứng có hại gặp phải khi sử dụng thuốc.

QUÁ LIỀU VÀ CÁCH XỬ TRÍ

Dữ liệu về quá liều ở người còn hạn chế. Các triệu chứng liên quan đến quá liều thuốc ức chế men chuyển có thể bao gồm tụt huyết áp, sốc tuần hoàn, rối loạn điện giải, suy thận, tăng thông khí phổi, nhanh nhịp tim, đánh trống ngực, chậm nhịp tim, chóng mặt, lo âu và ho.

Điều trị quá liều được khuyến cáo là truyền tĩnh mạch dung dịch muối sinh lý. Nếu hạ huyết áp xảy ra, nên đặt bệnh nhân ở tư thế chống sốc. Cũng có thể xem xét điều trị với angiotensin II và/hoặc catecholamine tiêm tĩnh mạch nếu có sẵn. Nếu mới uống thuốc quá liều, áp dụng các biện pháp nhằm đào thải lisinopril (như gây nôn, rửa dạ dày, uống chất hấp thụ và natri sulfate). Có thể loại lisinopril ra khỏi hệ tuần hoàn bằng phương pháp thẩm phân máu (xem phần Cảnh báo và thận trọng khi dùng thuốc). Đặt máy tạo nhịp được chỉ định trong tình trạng chậm nhịp tim kháng trị. Cần theo dõi thường xuyên các dấu hiệu sinh tồn, nồng độ chất điện giải và creatinine trong huyết thanh.

ĐẶC TÍNH DƯỢC LỰC HỌC

Nhóm trị liệu: Thuốc ức chế men chuyển angiotensin.

Mã ATC: C09AA03.

Cơ chế tác động

Lisinopril là chất ức chế men peptidyl dipeptidase. Lisinopril ức chế men chuyển angiotensin (ACE), là chất xúc tác sự chuyển đổi angiotensin I thành chất peptide co mạch là angiotensin II. Angiotensin II cũng kích thích sự tiết aldosterone từ vỏ thượng thận. Ức chế ACE làm giảm nồng độ angiotensin II dẫn đến giảm tính co mạch và giảm tiết aldosterone. Sự giảm tiết aldosterone có thể làm tăng nồng độ kali huyết thanh.

Tác dụng dược lực học

Trong khi cơ chế tác dụng hạ huyết áp của lisinopril được cho là chủ yếu do sự ức chế hệ thống renin-angiotensin-aldosterone, lisinopril vẫn có tác dụng điều trị tăng huyết áp ngay cả ở những bệnh nhân bị tăng huyết áp có nồng độ renin thấp. ACE hoàn toàn giống kininase II, là men thoái biến bradykinin. Sự gia tăng nồng độ của bradykinin, một peptide giãn mạch, có đóng vai trò trong hiệu quả điều trị của lisinopril hay không vẫn còn là một vấn đề cần phải làm sáng tỏ.

Dữ liệu an toàn lâm sàng

Tác động của lisinopril trên tỷ lệ tử vong và tỷ lệ mắc bệnh trong suy tim đã được nghiên cứu bằng cách so sánh liều cao (32,5 mg hoặc 35 mg, ngày 1 lần) với liều thấp (2,5 mg hoặc 5 mg, ngày 1 lần). Trong một nghiên cứu trên 3.164 bệnh nhân với thời gian theo dõi trung bình là 46 tháng đối với bệnh nhân sống sót, dùng liều cao lisinopril đã giảm 12% nguy cơ đối với tiêu chí kết hợp tử vong do tất cả các nguyên nhân và nhập viện do tất cả các nguyên nhân (p=0,002) và giảm 8% nguy cơ tử vong do tất cả nguyên nhân và nhập viện do bệnh tim mạch (p=0,036) so với khi dùng liều thấp. Nghiên cứu cũng đã ghi nhận giảm nguy cơ tử vong do tất cả nguyên nhân (8%; p=0,128) và giảm nguy cơ tử vong do bệnh tim mạch (10%; p=0,073). Trong một phân tích post-hoc, số bệnh nhân nhập viện do suy tim giảm 24% (p=0,002) ở bệnh nhân dùng liều cao lisinopril so với liều thấp. Lợi ích trên triệu chứng là tương tự ở cả hai nhóm dùng lisinopril liều cao và liều thấp.

Kết quả nghiên cứu chứng tỏ là tổng quan biến cố ngoại ý ở bệnh nhân điều trị liều cao hoặc liều thấp lisinopril đều tương tự nhau về bản chất cũng như số lượng. Các biến cố dự đoán trước do thuốc ức chế men chuyển như hạ huyết áp hoặc thay đổi chức năng thận có thể kiểm soát được và hiếm khi phải ngưng điều trị. Triệu chứng ho ít xảy ra hơn ở bệnh nhân dùng lisinopril liều cao so với dùng liều thấp.

Trong thử nghiệm GISSI-3 dùng thiết kế giai thừa 2 x 2 để so sánh tác động của lisinopril và glyceryl trinitrate dùng riêng lẻ hoặc kết hợp trong 6 tuần so với nhóm chứng. Thử nghiệm thực hiện trên 19.394 bệnh nhân dùng thuốc trong vòng 24 giờ sau cơn nhồi máu cơ tim, lisinopril cho thấy giảm nguy cơ tử vong có ý nghĩa thống kê so với nhóm chứng (11%, 2p = 0,03). Glyceryl trinitrate làm giảm nguy cơ không đáng kể nhưng sự kết hợp giữa lisinopril và glyceryl trinitrate làm giảm đáng kể nguy cơ tử vong so với nhóm chứng (17%, 2p = 0,02). Trong phân nhóm người cao tuổi (> 70 tuổi) và phụ nữ, đã được xác định là các nhóm có nguy cơ tử vong cao, người ta đã ghi nhận có lợi ích đáng kể đối với tiêu chí kết hợp tỷ lệ tử vong và chức năng tim. Tiêu chí đánh giá kết hợp cho toàn bộ bệnh nhân cũng như cho các nhóm nguy cơ cao tại thời điểm 6 tháng cũng chứng tỏ lợi ích đáng kể trên bệnh nhân dùng lisinopril hoặc lisinopril kết hợp với glyceryl trinitrate trong 6 tuần, cho thấy lisinopril có tác động dự phòng. Cũng như điều trị với những thuốc giãn mạch khác, việc điều trị bằng lisinopril có thể kèm với việc tăng tần suất hạ huyết áp và rối loạn chức năng thận nhưng không có sự tăng tỷ lệ thuận tần suất tử vong.

Trong một nghiên cứu mù đôi, ngẫu nhiên, đa trung tâm so sánh lisinopril với thuốc chẹn kênh calci trên 335 bệnh nhân đái tháo đường týp 2 và tăng huyết áp, mắc bệnh thận giai đoạn đầu biểu thị bằng triệu chứng albumin niệu vi lượng, dùng lisinopril 10 – 20 mg, ngày 1 lần trong 12 tháng, làm giảm 13 mm Hg huyết áp tâm thu, 10 mmHg huyết áp tâm trương và 40% tốc độ tiết albumin niệu. Khi so sánh với thuốc chẹn kênh calci cũng gây giảm huyết áp tương tự, bệnh nhân dùng lisinopril cho thấy có tốc độ tiết albumin niệu giảm nhiều hơn đáng kể, cung cấp bằng chứng chứng minh tác động ức chế men chuyển của lisinopril làm giảm albumin niệu vi lượng qua cơ chế trực tiếp trên mô thận ngoài tác động hạ huyết áp.

Điều trị với lisinopril không ảnh hưởng đến kiểm soát đường huyết như được ghi nhận qua sự thiếu hụt tác động đáng kể trên các mức haemoglobin gắn glucose (HbA1c).

Các thuốc tác động trên hệ renin-angiotensin (RAS)

Hai thử nghiệm ngẫu nhiên có đối chứng quy mô lớn (ONTARGET (ONgoing Telmisartan Alone and in combination with Ramipril Global Endpoint Trial) và VA NEPHRON-D (The Veterans Affairs Nephropathy in Diabetes) đã đánh giá phác đồ phối hợp một thuốc ức chế men chuyển với một thuốc chẹn thụ thể angiotensin II.

ONTARGET là thử nghiệm được thực hiện trên các bệnh nhân có tiền sử mắc bệnh tim mạch hoặc bệnh mạch máu não hoặc bệnh đái tháo đường týp 2 kèm bằng chứng tổn thương cơ quan đích. VA NEPHRON-D là thử nghiệm trên các bệnh nhân mắc đái tháo đường týp 2 và bệnh thận do đái tháo đường. Hai nghiên cứu này cho thấy sử dụng kết hợp thuốc ức chế men chuyển và chẹn thụ thể angiotensin II không cải thiện đáng kể trên thận và/hoặc tim mạch và tỷ lệ tử vong nhưng làm tăng nguy cơ tăng kali máu, tổn thương thận cấp và/hoặc hạ huyết áp so với phác đồ đơn độc. Do đặc tính dược lực học tương tự nhau, những kết quả này cũng có thể áp dụng đối với các thuốc ức chế men chuyển và thuốc chẹn thụ thể angiotensin II khác.

Do đó, không nên sử dụng đồng thời thuốc ức chế men chuyển và thuốc chẹn thụ thể angiotensin II trên các bệnh nhân mắc bệnh thận do đái tháo đường.

ALTITUDE (Aliskiren Trial in Type 2 Diabetes Using Cardiovascular and Renal Disease Endpoints) là một thử nghiệm được thiết kế để đánh giá lợi ích của việc bổ sung thêm aliskiren vào phác đồ điều trị chuẩn là một thuốc ức chế men chuyển hoặc một thuốc chẹn thụ thể angiotensin II trên các bệnh nhân mắc đái tháo đường týp 2 và bệnh thận mạn tính, bệnh tim mạch hoặc cả hai. Nghiên cứu này đã kết thúc sớm do tăng nguy cơ gặp kết quả bất lợi. Đột quỵ và tử vong do nguyên nhân tim mạch thường gặp hơn ở nhóm aliskiren so với nhóm placebo (giả dược). Các biến cố bất lợi và biến cố bất lợi nghiêm trọng đáng chú ý (tăng kali máu, hạ huyết áp và rối loạn chức năng thận) cũng được báo cáo với tần suất cao hơn ở nhóm aliskiren so với nhóm giả dược.

Trẻ em

Trong một nghiên cứu lâm sàng trên 115 bệnh nhi huyết áp tăng, từ 6 – 16 tuổi, bệnh nhân cân nặng dưới 50 kg sử dụng 0,625 mg, 2,5 mg hoặc 20 mg lisinopril một lần mỗi ngày, và bệnh nhân có cân nặng từ 50 kg trở lên sử dụng 1,25 mg, 5 mg hoặc 40 mg lisinopril một lần mỗi ngày. Sau 2 tuần, dùng lisinopril một lần mỗi ngày làm huyết áp giảm một cách phụ thuộc liều mà hiệu quả hạ huyết áp không đổi được chứng minh ở liều lớn hơn 1,25 mg.

Tác dụng này đã được xác định ở giai đoạn ngưng thuốc, khi huyết áp tâm trương ở bệnh nhân được chọn ngẫu nhiên dùng giả dược tăng khoảng 9 mm Hg so với bệnh nhân được chọn ngẫu nhiên để duy trì liều trung bình và cao của lisinopril. Tác dụng hạ huyết áp phụ thuộc liều của lisinopril là đồng nhất giữa các nhóm nhân khẩu học: tuổi tác, giai đoạn dậy thì, giới tính và chủng tộc.

Ở trẻ em có chức năng thận suy giảm, nên xem xét khởi đầu với liều thấp hơn hoặc xem xét tăng từng mức liều.

ĐẶC TÍNH DƯỢC ĐỘNG HỌC

Lisinopril là một thuốc ức chế men chuyển không chứa sulphydryl, dùng đường uống.

Hấp thu

Sau một liều uống lisinopril, nồng độ đỉnh của thuốc trong huyết thanh đạt được trong 7 giờ, mặc dù thuốc có khuynh hướng đạt đến nồng độ đỉnh trong máu chậm hơn ở các bệnh nhân bị nhồi máu cơ tim cấp. Dựa vào lượng thuốc qua đường tiểu, mức độ hấp thu trung bình của lisinopril là khoảng 25%, với sự biến thiên theo từng bệnh nhân 6 – 60% đối với các liều được nghiên cứu (5 – 80 mg). Sinh khả dụng tuyệt đối giảm khoảng 16% ở bệnh nhân suy tim. Thức ăn không ảnh hưởng đến sự hấp thu lisinopril.

Phân bố

Lisinopril dường như không gắn kết với protein huyết thanh ngoài men chuyển angiotensin trong máu (ACE). Các nghiên cứu trên chuột cho thấy lisinopril ít qua hàng rào máu-não.

Thải trừ

Lisinopril không qua chuyển hóa và bài tiết toàn bộ dưới dạng không đổi qua nước tiểu. Ở các liều lặp lại, lisinopril có nửa đời thải trừ là 12,6 giờ. Hệ số thanh thải lisinopril ở người khoẻ mạnh khoảng 50 ml/phút. Nồng độ thuốc trong huyết thanh giảm dần cho thấy một giai đoạn cuối kéo dài mà không góp phần vào sự tích lũy thuốc. Giai đoạn cuối này có thể biểu hiện bằng việc gắn kết bão hòa với ACE và không tỷ lệ với liều lượng.

Bệnh nhân suy gan

Tổn thương chức năng gan ở bệnh nhân xơ gan đưa đến giảm hấp thu lisinopril (khoảng 30% như được xác định qua lượng thuốc qua đường tiểu) nhưng tăng mức độ và thời gian tiếp xúc với thuốc (khoảng 50%) so với người khoẻ mạnh do giảm thanh thải.

Bệnh nhân suy thận

Tổn thương chức năng thận làm giảm thải trừ lisinopril, vốn được tiết qua thận nhưng sự giảm này chỉ có ý nghĩa lâm sàng khi độ lọc cầu thận dưới 30 ml/phút. Ở bệnh nhân suy thận nhẹ đến trung bình (độ thanh thải creatinine 30 – 80 ml/phút), AUC trung bình chỉ tăng 13%, trong khi ở bệnh nhân suy thận nặng (độ thanh thải creatinine 5 – 30 ml/phút) AUC trung bình được ghi nhận tăng lên gấp 4,5 lần.

Lisinopril có thể được đào thải qua thẩm phân. Trong 4 giờ thẩm phân máu, nồng độ lisinopril trong huyết tương giảm trung bình khoảng 60% với độ thanh thải thẩm phân là 40 – 55 ml/phút.

Bệnh nhân suy tim

Bệnh nhân suy tim có mức độ và thời gian tiếp xúc với lisinopril lớn hơn khi so với người khoẻ mạnh (AUC tăng trung bình 125%), nhưng nếu dựa vào lượng thuốc qua đường tiểu của lisinopril, hấp thu sẽ giảm khoảng 16% so với người khoẻ mạnh.

Trẻ em

Thông tin dược động học của lisinopril được nghiên cứu ở 29 bệnh nhi tăng huyết áp, từ 6 đến 16 tuổi, với chỉ số GFR trên 30 ml/phút/1,73m2. Sau khi sử dụng liều 0,1 – 0,2 mg/kg, nồng độ đỉnh trong huyết tương của lisinopril đạt trạng thái ổn định trong vòng 6 giờ, và mức độ hấp thu dựa trên lượng thu hồi trong nước tiểu khoảng 28%. Những giá trị này tương tự như giá trị thu được trước đây ở người lớn.

AUC và Cmax ở trẻ em trong nghiên cứu này đã phù hợp với kết quả đã quan sát ở người lớn.

Người cao tuổi

Bệnh nhân cao tuổi có nồng độ thuốc trong máu và AUC sẽ cao hơn so với bệnh nhân trẻ tuổi (tăng khoảng 60%).

DỮ LIỆU AN TOÀN TIỀN LÂM SÀNG

Dữ liệu tiền lâm sàng cho thấy không có nguy cơ đặc biệt nào đối với người dựa trên các nghiên cứu thông thường về dược lý học nói chung, độc tính liều lặp lại, nhiễm độc gen và khả năng gây ung thư.

Các thuốc thuộc nhóm ức chế men chuyển angiotensin đã được chứng minh là gây ra tác dụng phụ đối với giai đoạn sau của sự phát triển bào thai, dẫn đến tử vong ở thai nhi và các khiếm khuyết bẩm sinh, đặc biệt là ảnh hưởng đến hộp sọ. Độc tính đối với thai nhi, chậm phát triển trong tử cung và còn ống động mạch cũng đã được báo cáo. Những bất thường liên quan đến sự phát triển thai nhi được cho là do tác động trực tiếp của các thuốc ức chế men chuyển lên hệ renin-angiotensin của bào thai và một phần do tác động thiếu máu cục bộ từ việc hạ huyết áp trên người mẹ và làm giảm lưu lượng máu từ nhau thai qua bào thai và giảm cung cấp oxy/chất dinh dưỡng cho bào thai.

QUI CÁCH ĐÓNG GÓI

Hộp 3 vỉ hoặc 6 vỉ hoặc 10 vỉ x 10 viên.

BẢO QUẢN

Giữ thuốc nơi khô ráo, nhiệt độ không quá 30°C.

HẠN DÙNG: 36 tháng kể từ ngày sản xuất.

TIÊU CHUẨN CHẤT LƯỢNG: BP hiện hành.

Nên uống lisinopril một lần duy nhất mỗi ngày. Cũng như các thuốc khác dùng một lần duy nhất trong ngày, Sarvetil nên được uống ở cùng thời điểm trong ngày. Thức ăn không ảnh hưởng đến sự hấp thu của viên nén Sarvetil.

Liều lượng tùy thuộc theo tình trạng và đáp ứng huyết áp của từng cá nhân (xem phần Cảnh báo và thận trọng khi dùng thuốc).

Không bẻ đôi viên thuốc. Bệnh nhân nên được chỉ định thuốc có dạng bào chế với hàm lượng thích hợp với liều dùng được chỉ định.

Tăng huyết áp

Sarvetil có thể dùng riêng lẻ hoặc kết hợp với các nhóm thuốc trị tăng huyết áp khác (xem phần Chống chỉ định, Cảnh báo và thận trọng khi dùng thuốc, Tương tác, tương kỵ của thuốc và Đặc tính dược lực học).

Liều khởi đầu

Ở bệnh nhân tăng huyết áp, liều khởi đầu được khuyến cáo là 10 mg. Bệnh nhân có hệ renin-angiotensin-aldosterone hoạt động mạnh (đặc biệt ở bệnh nhân tăng huyết áp do bệnh lý mạch máu-thận, thiếu nước và/hoặc thiếu muối, suy tim mất bù hoặc tăng huyết áp trầm trọng) có thể bị hạ huyết áp quá mức sau khi dùng liều khởi đầu. Nên dùng liều khởi đầu 2,5 – 5 mg cho các bệnh nhân này và cần có sự theo dõi của bác sỹ. Cần dùng liều khởi đầu thấp hơn ở bệnh nhân có tổn thương thận (xem Bảng 1 dưới đây).

Liều duy trì

Liều duy trì thông thường có hiệu quả là 20 mg, uống một lần duy nhất mỗi ngày. Nói chung, nếu không đạt được hiệu quả điều trị mong muốn sau 2 – 4 tuần với liều điều trị nào đó thì có thể tăng liều. Liều tối đa trong các thử nghiệm lâm sàng dài hạn có đối chứng là 80 mg/ngày.

Bệnh nhân đang dùng thuốc lợi tiểu

Hạ huyết áp có triệu chứng có thể xảy ra khi bắt đầu điều trị với lisinopril. Điều này dễ xảy ra hơn ở bệnh nhân đang được điều trị đồng thời với thuốc lợi tiểu. Do đó phải thận trọng vì những bệnh nhân này có thể đang thiếu nước và/hoặc muối. Nếu được, nên ngưng thuốc lợi tiểu 2 – 3 ngày trước khi bắt đầu điều trị với lisinopril. Ở bệnh nhân tăng huyết áp không thể ngưng thuốc lợi tiểu, nên dùng lisinopril với liều khởi đầu 5 mg. Nên theo dõi chức năng thận và lượng kali huyết thanh. Liều lisinopril tiếp theo nên điều chỉnh tùy theo đáp ứng của huyết áp. Nếu cần thiết, có thể tiếp tục dùng thuốc lợi tiểu (xem phần Cảnh báo và thận trọng khi dùng thuốc và Tương tác, tương kỵ của thuốc).

Điều chỉnh liều ở bệnh nhân suy thận

Liều ở bệnh nhân suy thận phải được dựa trên độ thanh thải creatinine như mô tả ở bảng 1 dưới đây.

Bảng 1. Liều điều chỉnh ở bệnh nhân suy thận

Độ thanh thải creatinine (mL/phút)

Liều khởi đầu (mg/ngày)

Ít hơn 10 mL/phút (kể cả bệnh nhân thẩm phân)

2,5 mg*

10 – 30 mL/phút

2,5 – 5 mg

31 – 80 mL/phút

5 – 10 mg

*Liều và/hoặc số lần dùng thuốc cần được điều chỉnh theo đáp ứng của huyết áp.

Liều có thể được điều chỉnh tăng dần cho đến khi huyết áp được kiểm soát hoặc tới liều tối đa 40 mg/ngày.

Sử dụng trên trẻ em bị bệnh cao huyết áp từ 6 – 16 tuổi

Liều khởi đầu khuyến cáo là 2,5 mg một lần mỗi ngày ở bệnh nhân có cân nặng từ 20 kg đến < 50 kg, và 5 mg một lần mỗi ngày ở bệnh nhân ≥ 50 kg. Liều nên được điều chỉnh tùy theo cá thể đến tối đa 20 mg/ngày ở bệnh nhân có cân nặng từ 20 đến < 50 kg, và không quá 40 mg/ngày ở bệnh nhân ≥ 50 kg. Liều trên 0,61 mg/kg (hoặc vượt quá 40 mg/ngày) chưa được nghiên cứu ở trẻ em (xem phần Đặc tính dược lực học). Ở trẻ em có chức năng thận suy giảm, nên xem xét khởi đầu với liều thấp hơn hoặc xem xét tăng từng mức liều.

Suy tim

Ở bệnh nhân suy tim có triệu chứng, lisinopril nên được dùng như một liệu pháp hỗ trợ cho thuốc lợi tiểu và, khi thích hợp, có thể hỗ trợ cho digitalis hoặc thuốc chẹn bêta. Lisinopril có thể được sử dụng với liều khởi đầu 2,5 mg, 1 lần/ngày và nên uống khi có sự theo dõi của bác sỹ để xác định tác động lần đầu của thuốc lên huyết áp. Nên tăng liều lisinopril:

  • Từng mức không quá 10 mg.

  • Thời gian điều chỉnh liều không ít hơn 2 tuần.

  • Liều tối đa bệnh nhân có thể dung nạp lên đến 35 mg, 1 lần/ngày.

Việc điều chỉnh liều lượng phải được dựa trên đáp ứng lâm sàng của từng bệnh nhân.

Ở bệnh nhân có nguy cơ cao hạ huyết áp có triệu chứng, ví dụ bệnh nhân bị thiếu muối có hay không có giảm natri máu, bệnh nhân giảm thể tích tuần hoàn hoặc bệnh nhân đã được điều trị tích cực bằng thuốc lợi tiểu, các tình trạng bệnh này phải được điều trị, nếu được, trước khi điều trị với lisinopril. Nên theo dõi chức năng thận và kali huyết thanh (xem phần Cảnh báo và thận trọng khi dùng thuốc).

Nhồi máu cơ tim cấp

Nếu cần, bệnh nhân nên được điều trị bằng các phác đồ chuẩn như thuốc tan huyết khối, aspirin và thuốc chẹn bêta. Có thể dùng glyceryl trinitrate tiêm tĩnh mạch hoặc qua da cùng lúc với lisinopril.

Liều khởi đầu (3 ngày đầu tiên sau cơn nhồi máu cơ tim)

Điều trị bằng lisinopril có thể khởi đầu trong vòng 24 giờ từ khi khởi phát các triệu chứng. Việc điều trị không nên bắt đầu nếu huyết áp tâm thu thấp hơn 100 mm Hg. Liều khởi đầu của lisinopril là 5 mg đường uống, tiếp theo là 5 mg sau 24 giờ, 10 mg sau 48 giờ và 10 mg một lần/ngày cho các ngày sau đó. Bệnh nhân có huyết áp tâm thu thấp (≤ 120 mm Hg) khi khởi đầu điều trị hay trong vòng 3 ngày đầu tiên sau cơn nhồi máu cơ tim nên dùng liều thấp hơn 2,5 mg đường uống (xem phần Cảnh báo và thận trọng khi dùng thuốc).

Ở bệnh nhân suy thận (độ thanh thải creatinine < 80 mL/phút), liều khởi đầu Lisinopril nên được điều chỉnh tùy theo độ thanh thải creatinine (xem Bảng 1).

Liều duy trì

Liều duy trì là 10 mg, 1 lần/ngày. Nếu hạ huyết áp xảy ra (huyết áp tâm thu ≤ 100 mm Hg), liều duy trì hằng ngày 5 mg nên được giảm tạm thời xuống còn 2,5 mg nếu cần thiết. Nếu hạ huyết áp kéo dài xảy ra (huyết áp tâm thu thấp hơn 90 mm Hg kéo dài lâu hơn một giờ), nên ngưng dùng thuốc lisinopril.

Việc điều trị nên được tiếp tục trong 6 tuần và sau đó bệnh nhân nên được đánh giá lại. Bệnh nhân có các triệu chứng suy tim nên tiếp tục dùng lisinopril (Xem phần Liều lượng, cách dùng).

Biến chứng trên thận của bệnh đái tháo đường

Điều trị bệnh thận ở bệnh nhân tăng huyết áp đái tháo đường týp 2 và bệnh thận mới khởi phát liều hàng ngày là 10 mg lisinopril, 1 lần/ngày, có thể tăng lên 20 mg, 1 lần/ngày, nếu cần thiết, để đạt được huyết áp tâm trương ở tư thế ngồi dưới 90 mm Hg. Ở bệnh nhân suy thận (độ thanh thải creatinine < 80 mL/phút), liều khởi đầu lisinopril nên được điều chỉnh theo độ thanh thải creatinine (xem Bảng 1).

Trẻ em

Dữ liệu về tính an toàn và hiệu quả cho trẻ em trên 6 tuổi bị tăng huyết áp còn hạn chế. Không khuyến cáo sử dụng lisinopril cho trẻ em với chỉ định khác ngoài chỉ định tăng huyết áp (xem phần Đặc tính dược lực học).

Không khuyến cáo sử dụng lisinopril cho trẻ em dưới 6 tuổi hoặc trẻ bị suy thận nặng (độ lọc cầu thận GFR < 30 ml/phút/1,73m2) (xem phần Đặc tính dược động học).

Sử dụng thuốc ở người cao tuổi

Trong các nghiên cứu lâm sàng, không có thay đổi nào liên quan đến tuổi tác bệnh nhân về hiệu quả và tính an toàn của thuốc. Tuy nhiên, khi tuổi cao kèm theo giảm chức năng thận, nên tuân theo hướng dẫn ở bảng 1 để xác định liều khởi đầu của lisinopril. Sau đó, liều nên được điều chỉnh tùy theo đáp ứng của huyết áp.

Sử dụng trên bệnh nhân ghép thận

Chưa có kinh nghiệm về việc dùng lisinopril trên bệnh nhân mới ghép thận. Do vậy, không khuyến cáo dùng lisinopril trên các bệnh nhân này.

CHỈ ĐỊNH

Tăng huyết áp

Điều trị tăng huyết áp.

Suy tim

Điều trị suy tim có triệu chứng.

Nhồi máu cơ tim cấp

Điều trị ngắn hạn (6 tuần) ở bệnh nhân có huyết động học ổn định trong vòng 24 giờ đầu ở cơn nhồi máu cơ tim cấp.

Biến chứng trên thận của bệnh đái tháo đường

Điều trị bệnh thận ở bệnh nhân tăng huyết áp đái tháo đường týp 2 và bệnh thận mới khởi phát (xem phần Đặc tính dược lực học).

CHỐNG CHỈ ĐỊNH

Quá mẫn với lisinopril hoặc bất kỳ tá dược nào hoặc các thuốc ức chế men chuyển angiotensin (ACE) khác.

Có tiền sử phù mạch do dùng thuốc ức chế men chuyển.

Sử dụng đồng thời lisinopril với sacubitril/valsartan. Lisinopril không được bắt đầu sớm hơn 36 giờ sau liều sacubitril/valsartan cuối cùng (xem phần Cảnh báo và thận trọng khi dùng thuốc và Tương tác, tương kỵ của thuốc).

Phù mạch di truyền hoặc vô căn.

Phụ nữ có thai ở 3 tháng giữa và cuối của thai kỳ (xem phần Cảnh báo và thận trọng khi dùng thuốc và Sử dụng thuốc cho phụ nữ có thai và cho con bú).

Dùng phối hợp với thuốc chứa aliskiren ở bệnh nhân đái tháo đường (týp I hoặc II) hoặc bệnh nhân suy thận trung bình đến nặng (GFR < 60 ml/phút/1,73m2) (xem phần Tương tác, tương kỵ của thuốc và Đặc tính dược lực học).