RYCAMED 150
Trang chủ / Sản phẩm / RYCAMED 150
Trang chủ / Sản phẩm / RYCAMED 150

RYCAMED 150

Rx Thuốc này chỉ dùng theo đơn thuốc

Để xa tầm tay trẻ em

Đọc kỹ hướng dẫn sử dụng trước khi dùng

THÀNH PHẦN

Mỗi viên nang cứng chứa:

Thành phần hoạt chất:

Rycamed®150: Pregabalin 150 mg.

Thành phần tá dược:

Thành phần nang rỗng số 4:

Thành phần thân nang: Titanium dioxide, gelatin.

Thành phần nắp nang: Titanium dioxide, Ponceau 4R, Brilliant Blue FCF (FD&C Blue No.1), iron oxide red, gelatin.

Rycamed®150: Pregelatinized starch, lactose monohydrate, talc, nang rỗng số 2, hai đầu màu trắng.

Thành phần nang rỗng số 2:

Thành phần thân nang: Titanium dioxide, gelatin.

Thành phần nắp nang: Titanium dioxide, gelatin.

DẠNG BÀO CHẾ

Rycamed®150: Viên nang cứng số 2, hai đầu màu trắng, bên trong chứa bột thuốc màu trắng đến trắng ngà.

CHỈ ĐỊNH

Đau thần kinh

Pregabalin được chỉ định trong điều trị đau thần kinh ngoại biên và trung ương ở người lớn.

Động kinh

Pregabalin được chỉ định như liệu pháp bổ trợ thêm vào liệu pháp điều trị động kinh cục bộ ở người lớn, có kèm hoặc không kèm theo động kinh thứ phát.

Rối loạn lo âu lan tỏa

Pregabalin được chỉ định điều trị rối loạn lo âu lan tỏa (GAD) ở người lớn.

LIỀU DÙNG, CÁCH DÙNG

Liều dùng

Khoảng liều dùng từ 150 – 600 mg mỗi ngày được chia thành 2 – 3 lần.

Đau thần kinh

Điều trị với pregabalin có thể bắt đầu với liều 150 mg mỗi ngày, chia thành 2 – 3 lần.

Tùy theo đáp ứng và khả năng dung nạp của từng bệnh nhân, liều dùng có thể tăng đến 300 mg/ngày sau khoảng thời gian 3 – 7 ngày, và nếu cần, có thể tăng đến liều tối đa 600 mg/ngày sau khoảng 7 ngày điều trị thêm.

Động kinh

Có thể bắt đầu điều trị bằng pregabalin với liều 150 mg mỗi ngày, chia thành 2 – 3 lần.

Tùy theo đáp ứng và khả năng dung nạp của từng bệnh nhân, liều dùng có thể tăng đến 300 mg/ngày sau 1 tuần. Có thể tăng đến liều tối đa 600 mg/ngày sau 1 tuần điều trị thêm.

Rối loạn lo âu lan tỏa

Khoảng liều dùng từ 150 – 600 mg mỗi ngày được chia thành 2 – 3 lần. Cần thường xuyên đánh giá lại nhu cầu điều trị.

Có thể bắt đầu điều trị bằng pregabalin với liều 150 mg/ngày. Dựa trên đáp ứng và khả năng dung nạp của từng bệnh nhân, có thể tăng liều đến 300 mg/ngày sau 1 tuần điều trị. Sau khi điều trị thêm 1 tuần liều dùng có thể tăng đến 450 mg/ngày. Có thể tăng đến liều tối đa 600 mg/ngày sau 1 tuần điều trị thêm.

Ngưng sử dụng pregabalin

Theo thực nghiệm lâm sàng, nếu nên ngưng dùng pregabalin, nên ngừng từ từ trong tối thiểu một tuần, không phụ thuộc vào chỉ định (xem mục Cảnh báo và thận trọng khi dùng thuốc và Tác dụng không mong muốn của thuốc).

Bệnh nhân suy thận

Pregabalin được thải trừ từ hệ tuần hoàn chung qua sự bài tiết ở thận dưới dạng không đổi. Bởi vì độ thanh thải pregabalin tỉ lệ thuận với độ thanh thải creatinin (xem mục Đặc tính dược động học), nên việc giảm liều trên các bệnh nhân tổn thương chức năng thận phải tùy theo từng cá nhân và theo độ thanh thải creatinin (ClCr), được trình bày trong bảng 1, sử dụng công thức dưới đây:

ClCr

(ml/phút)

=1,23 x [140 – tuổi (năm)] x cân nặng (kg)](x 0,85 đối với bệnh nhân nữ)
creatinin huyết thanh (µmol/l)

Pregabalin được loại bỏ hiệu quả khỏi huyết tương bằng thẩm tách máu (50% thuốc trong 4 giờ). Với các bệnh nhân đang phải thẩm tách máu, liều hàng ngày của pregabalin cần được điều chỉnh tùy theo chức năng thận. Bên cạnh liều dùng hàng ngày, nên dùng một liều bổ sung ngay sau mỗi 4 giờ thẩm tách máu (xem Bảng 1).

Bảng 1. Điều chỉnh liều pregabalin theo chức năng thận

Độ thanh thải creatinin (ClCr) (ml/phút)Tổng liều pregabalin

hàng ngày (*)

Chế độ liều
Liều khởi đầu

(mg/ngày)

Liều tối đa

(mg/ngày)

≥ 60150600BID hoặc TID
≥ 30 – < 6075300BID hoặc TID
≥ 15 – < 3025 – 50150Ngày 1 lần hoặc BID
< 152575Ngày 1 lần
Liều bổ trợ sau khi thẩm tách máu (mg)
25100Liều đơn (+)

TID: Chia thành 3 lần/ngày

BID: Chia thành 2 lần/ngày

(*) Tổng liều hàng ngày (mg/ngày) cần chia theo chế độ liều nói trên để cung cấp mg/liều.

(+) Liều bổ sung là liều đơn thêm vào.

Bệnh nhân suy gan

Không cần chỉnh liều trên bệnh nhân suy gan (xem mục Đặc tính dược động học).

Trẻ em

Tính an toàn và hiệu quả của pregabalin ở trẻ em dưới 12 tuổi và thiếu niên (12 – 17 tuổi) chưa được thiết lập. Các dữ liệu hiện có được mô tả ở mục Tác dụng không mong muốn của thuốc, Đặc tính dược lực học và Đặc tính dược động học, nhưng không khuyến cáo dùng thuốc cho nhóm bệnh nhân này.

Người cao tuổi

Người cao tuổi có thể cần phải giảm liều pregabalin do chức năng thận suy giảm (xem mục Đặc tính dược động học).

Cách dùng

Pregabalin có thể dùng cùng hoặc không cùng với thức ăn.

Pregabalin chỉ dùng đường uống.

CHỐNG CHỈ ĐỊNH

Mẫn cảm với pregabalin hoặc bất kỳ thành phần nào của thuốc.

CẢNH BÁO VÀ THẬN TRỌNG KHI DÙNG THUỐC

Bệnh nhân đái tháo đường

Theo thực nghiệm lâm sàng, một số bệnh nhân đái tháo đường là những người có tăng cân khi sử dụng pregabalin có thể cần điều chỉnh một số thuốc hạ đường huyết.

Các phản ứng quá mẫn

Đã có những báo cáo hậu mãi về các phản ứng quá mẫn của thuốc, bao gồm những trường hợp phù mạch. Nên ngừng pregabalin ngay lập tức nếu có các triệu chứng của phù mạch như ở mặt, quanh miệng, phù đường hô hấp trên.

Phản ứng bất lợi nghiêm trọng trên da (SCAR)

Các SCAR bao gồm hội chứng Stevens-Johnson (SJS) và hoại tử da nhiễm độc (TEN), có thể đe dọa tính mạng hoặc gây tử vong, hiếm khi được báo cáo liên quan đến điều trị bằng pregabalin. Tại thời điểm kê đơn, bệnh nhân nên được thông báo về các dấu hiệu và triệu chứng và theo dõi chặt chẽ các phản ứng trên da. Nếu các dấu hiệu và triệu chứng gợi ý về những phản ứng này xuất hiện, nên ngừng sử dụng pregabalin ngay lập tức và cân nhắc điều trị thay thế (nếu thích hợp).

Chóng mặt, buồn ngủ, mất ý thức, lú lẫn và sa sút tinh thần

Điều trị với pregabalin có thể liên quan tới chóng mặt và buồn ngủ, và có thể làm tăng tổn thương do tai nạn (ngã) ở người cao tuổi. Đã có báo cáo hậu mãi về mất ý thức, lú lẫn và sa sút tinh thần. Vì vậy, bệnh nhân dùng pregabalin nên được khuyên thận trọng cho tới khi họ quen với các tác dụng này của thuốc.

Ảnh hưởng tới khả năng nhìn

Trong các thử nghiệm có kiểm soát, tỉ lệ cao bệnh nhân điều trị với pregabalin được báo cáo là nhìn mờ so với những bệnh nhân sử dụng giả dược, tác dụng có hại này sẽ hết khi tiếp tục sử dụng thuốc. Trong các nghiên cứu lâm sàng khi các kiểm tra về mắt được thực hiện, tỉ lệ giảm thị lực và thay đổi trường nhìn ở những bệnh nhân sử dụng pregabalin lớn hơn so với bệnh nhân chỉ sử dụng giả dược. Tỉ lệ thay đổi võng mạc là lớn hơn ở những bệnh nhân dùng giả dược (xem mục Đặc tính dược lực học).

Trong các báo cáo hậu mãi, tác dụng có hại trên khả năng nhìn đã được báo cáo, bao gồm mất khả năng nhìn, nhìn mờ hoặc các thay đổi về thị giác, đa số là thoáng qua.

Ngừng sử dụng pregabalin có thể giải quyết được những tác dụng có hại này.

Suy thận

Đã có báo cáo về suy thận khi sử dụng pregabalin và có hồi phục khi ngừng sử dụng thuốc.

Ngưng sử dụng kết hợp pregabalin với các thuốc chống động kinh

Chưa có các dữ liệu đầy đủ về việc ngưng sử dụng kết hợp pregabalin với các thuốc chống động kinh khác để đạt tới đơn trị liệu với pregabalin, sau khi đã kiểm soát được cơn động kinh với điều trị kết hợp.

Suy tim sung huyết

Đã có các báo cáo hậu mãi về suy tim sung huyết ở một số bệnh nhân điều trị với pregabalin. Hầu hết các tác dụng có hại này xảy ra ở những bệnh nhân lớn tuổi có sẵn các tổn thương về tim mạch được điều trị bằng pregabalin cho chỉ định đau thần kinh. Nên thận trọng khi dùng pregabalin ở những bệnh nhân này. Tác dụng có hại này sẽ hết nếu ngưng dùng pregabalin.

Điều trị đau thần kinh trung ương ở những bệnh nhân chấn thương cột sống

Trong điều trị đau thần kinh trung ương ở những bệnh nhân chấn thương cột sống, tỉ lệ tác dụng có hại nói chung, tác dụng có hại trên thần kinh trung ương và đặc biệt là buồn ngủ tăng lên. Những tác dụng có hại này có thể là do tác dụng hiệp đồng do dùng chung pregabalin với các thuốc khác (như thuốc giãn cơ). Nên cân nhắc khi dùng pregabalin trong trường hợp này.

Suy hô hấp

Đã có báo cáo về trường hợp suy hô hấp nghiêm trọng liên quan đến việc sử dụng pregabalin. Bệnh nhân bị tổn thương chức năng hô hấp, bệnh hô hấp hoặc thần kinh, suy thận, sử dụng đồng thời thuốc ức chế thần kinh trung ương và người cao tuổi có thể có nguy cơ cao gặp phải phản ứng bất lợi nghiêm trọng này. Có thể cần điều chỉnh liều ở những bệnh nhân này (xem phần Liều dùng, cách dùng).

Ý định tự tử và rối loạn hành vi

Ý định tự tử và rối loạn hành vi đã được báo cáo với thuốc chống động kinh trong vài chỉ định. Một phân tích gộp các nghiên cứu ngẫu nhiên có đối chứng với giả dược của thuốc chống động kinh cũng chỉ ra rằng có sự tăng nhẹ nguy cơ có ý định tự tử và rối loạn hành vi. Cơ chế của nguy cơ này chưa được biết rõ. Các trường hợp có ý định và hành vi tự tử đã được quan sát thấy ở những bệnh nhân được điều trị bằng pregabalin trong kinh nghiệm hậu mãi (xem phần Tác dụng không mong muốn của thuốc). Một nghiên cứu dịch tễ học sử dụng thiết kế nghiên cứu tự kiểm soát (so sánh thời gian điều trị với thời gian không điều trị ở một cá nhân) cho thấy bằng chứng về sự gia tăng nguy cơ khởi phát hành vi tự tử mới và tử vong do tự tử ở những bệnh nhân được điều trị bằng pregabalin. Bệnh nhân (và người chăm sóc bệnh nhân) nên được tư vấn kỹ để tìm hỗ trợ y khoa nếu như thấy những dấu hiệu của ý định tự tử và rối loạn hành vi. Bệnh nhân nên được theo dõi các dấu hiệu của ý định tự tử và rối loạn hành vi cũng như cân nhắc liệu pháp điều trị thích hợp. Việc ngừng điều trị bằng pregabalin nên được xem xét trong trường hợp có ý định tự tử và rối loạn hành vi.

Giảm chức năng đường tiêu hóa dưới

Đã có những báo cáo hậu mãi có liên quan tới giảm chức năng đường tiêu hóa dưới (ví dụ: tắc ruột, liệt ruột, táo bón) khi sử dụng pregabalin đồng thời với các thuốc có khả năng gây ra táo bón, như các thuốc giảm đau opioid. Khi sử dụng phối hợp pregabalin và các thuốc opioid, nên có các biện pháp phòng táo bón (đặc biệt ở bệnh nhân nữ và người lớn tuổi).

Sử dụng đồng thời với opioid

Cần thận trọng khi kê đơn đồng thời pregabalin với các opioid do nguy cơ ức chế thần kinh trung ương (xem phần Tương tác, tương kỵ của thuốc). Trong một nghiên cứu bệnh chứng trên những người sử dụng opioid, những bệnh nhân dùng đồng thời pregabalin với một opioid có nguy cơ tử vong liên quan đến opioid cao hơn so với chỉ sử dụng opioid (tỷ số odd hiệu chỉnh [aOR], 1,68 [95% CI, 1,19 – 2,36]). Nguy cơ gia tăng này được ghi nhận ở liều thấp pregabalin (≤ 300 mg, aOR 1,52 [95% CI, 1,04 – 2,22]) và có xu hướng rủi ro cao hơn ở liều cao pregabalin (> 300 mg, aOR 2,51 [95 % CI, 1,24 – 5,06]).

Lạm dụng thuốc, khả năng lạm dụng thuốc hoặc phụ thuộc thuốc

Pregabalin có thể gây phụ thuộc thuốc ở liều điều trị. Đã có báo cáo về những trường hợp lạm dụng thuốc, phụ thuộc thuốc. Bệnh nhân có tiền sử lạm dụng thuốc có nguy cơ lạm dụng, phụ thuộc pregabalin cao hơn, nên thận trọng khi dùng pregabalin cho những bệnh nhân này. Trước khi kê đơn pregabalin, nguy cơ lạm dụng thuốc, phụ thuộc thuốc ở bệnh nhân nên được đánh giá cẩn thận.

Bệnh nhân điều trị với pregabalin nên được theo dõi các triệu chứng của lạm dụng hay phụ thuộc thuốc như tăng dung nạp, tăng liều, biểu hiện tìm thuốc.

Triệu chứng ngưng thuốc

Điều trị với pregabalin sau một thời gian ngắn hoặc dài, khi ngừng điều trị, đã quan sát thấy các triệu chứng ngưng thuốc ở một số bệnh nhân. Những triệu chứng bao gồm: mất ngủ, nhức đầu, buồn nôn, lo âu, tiêu chảy, hội chứng cúm, lo lắng, trầm cảm, đau, co giật, đổ mồ hôi, chóng mặt. Các triệu chứng được cho là do phụ thuộc thuốc (xem phần Tác dụng không mong muốn của thuốc). Bệnh nhân nên được biết những thông tin này trước khi điều trị. Nếu nên ngưng dùng pregabalin, nên ngừng từ từ trong tối thiểu một tuần, không phụ thuộc vào chỉ định (xem phần Liều dùng, cách dùng).

Co giật bao gồm cả động kinh trạng thái và động kinh cơn lớn có thể xảy ra trong suốt quá trình sử dụng pregabalin hoặc sau khi ngưng sử dụng pregabalin.

Liên quan tới việc ngưng dùng pregabalin sau một thời gian dài điều trị, các dữ liệu gợi ý rằng tỉ lệ và mức độ nghiêm trọng của triệu chứng ngưng thuốc có thể liên quan tới liều dùng.

Bệnh lý não

Đã có báo cáo về những trường hợp có bệnh lý não khi điều trị với pregabalin, hầu hết trên những bệnh nhân có những điều kiện cơ bản có thể thúc đẩy tới bệnh lý não.

Phụ nữ có khả năng sinh con/ tránh thai

Sử dụng pregabalin trong ba tháng đầu của thai kỳ có thể gây dị tật bẩm sinh nghiêm trọng cho thai nhi. Không nên sử dụng pregabalin trong thời kỳ mang thai trừ khi lợi ích cho người mẹ vượt trội hơn hẳn nguy cơ có thể xảy ra đối với thai nhi. Phụ nữ có khả năng sinh con phải sử dụng biện pháp tránh thai hiệu quả trong quá trình điều trị (xem mục Sử dụng thuốc cho phụ nữ có thai và cho con bú).

Tá dược

Thuốc này có chứa lactose. Bệnh nhân có vấn đề di truyền hiếm gặp về không dung nạp fructose, galactose, rối loạn chuyển hóa galactose hoặc kém hấp thu glucose-galactose không nên dùng thuốc này.

SỬ DỤNG THUỐC CHO PHỤ NỮ CÓ THAI VÀ CHO CON BÚ

Sử dụng thuốc ở phụ nữ có khả năng sinh con/ tránh thai

Phụ nữ có khả năng sinh con phải sử dụng biện pháp tránh thai hiệu quả trong quá trình điều trị (xem mục Cảnh báo và thận trọng khi dùng thuốc).

Sử dụng thuốc cho phụ nữ có thai

Các nghiên cứu trên động vật cho thấy sử dụng pregabalin gây độc tính trên sinh sản (xem mục Dữ liệu an toàn tiền lâm sàng).

Pregabalin qua được nhau thai ở chuột cống (xem mục Đặc tính dược động học). Pregabalin có thể đi qua nhau thai người.

Các dị tật bẩm sinh nghiêm trọng

Dữ liệu từ một nghiên cứu quan sát ở Bắc Âu trên hơn 2.700 trường hợp mang thai tiếp xúc với pregabalin trong ba tháng đầu cho thấy tỷ lệ dị tật bẩm sinh nghiêm trọng (MCM) cao hơn trong nhóm trẻ em (sống hoặc chết lưu) tiếp xúc với pregabalin so với nhóm không tiếp xúc (5,9% so với 4,1%).

Nguy cơ MCM ở nhóm trẻ em tiếp xúc với pregabalin trong ba tháng đầu tiên cao hơn một chút so với nhóm không tiếp xúc (tỷ lệ phổ biến đã điều chỉnh và khoảng tin cậy 95%: 1,14 (0,96 – 1,35)) và so với nhóm tiếp xúc với lamotrigine (1,29 (1,01 – 1,65)) hoặc duloxetine (1,39 (1,07 – 1,82)).

Các phân tích về dị tật cụ thể cho thấy nguy cơ dị tật hệ thần kinh, mắt, hở hàm ếch, dị tật tiết niệu và dị tật sinh dục cao hơn, nhưng số lượng rất nhỏ và ước tính không chính xác.

Pregabalin không nên được sử dụng trong thời kỳ mang thai trừ khi thật cần thiết (nếu lợi ích cho người mẹ vượt trội hơn hẳn nguy cơ có thể xảy ra cho thai nhi).

Sử dụng thuốc cho phụ nữ cho con bú

Pregabalin được bài tiết qua sữa mẹ (xem mục Đặc tính dược động học). Tác dụng của pregabalin trên trẻ sơ sinh là chưa biết rõ. Quyết định ngừng cho trẻ bú mẹ hoặc ngừng dùng pregabalin tùy vào lợi ích cho con bú sữa mẹ và lợi ích điều trị của pregabalin đối với người mẹ.

Khả năng sinh sản

Chưa có dữ liệu lâm sàng về tác động của pregabalin trên khả năng sinh sản của giống cái.

Trong một thử nghiệm lâm sàng đánh giá tác động của pregabalin trên khả năng di chuyển của tinh trùng, các cá thể đực khỏe mạnh đã được dùng pregabalin với liều 600 mg/ngày. Sau 3 tháng điều trị, không có ảnh hưởng đến khả năng di chuyển của tinh trùng.

Một nghiên cứu về khả năng sinh sản ở chuột cống cái đã cho thấy có tác dụng bất lợi trên sinh sản. Các nghiên cứu về khả năng sinh sản ở chuột cống đực cho thấy có tác dụng bất lợi trên sinh sản và phát triển. Sự liên quan trên lâm sàng của những phát hiện này là không rõ (xem phần Dữ liệu an toàn tiền lâm sàng).

ẢNH HƯỞNG CỦA THUỐC LÊN KHẢ NĂNG LÁI XE, VẬN HÀNH MÁY MÓC

Pregabalin có thể ảnh hưởng từ ít tới vừa tới khả năng lái xe và vận hành máy móc.

Pregabalin có thể gây chóng mặt, buồn ngủ, vì vậy có thể ảnh hưởng tới khả năng lái xe hay vận hành máy móc. Bệnh nhân nên được khuyên không lái xe hay vận hành máy móc cho đến khi biết liệu thuốc này có ảnh hưởng đến khả năng thực hiện các hoạt động này của họ hay không.

TƯƠNG TÁC, TƯƠNG KỴ CỦA THUỐC

Vì pregabalin bài tiết chủ yếu qua nước tiểu ở dạng không đổi, chuyển hóa không đáng kể ở người (< 2% thuốc bài tiết qua nước tiểu ở dạng chuyển hóa), pregabalin không ức chế chuyển hóa thuốc in vitro, và không liên kết với protein huyết tương, pregabalin gần như không gây các tương tác dược động học.

Các phân tích dược động học và các nghiên cứu in vivo

Theo các nghiên cứu in vivo không có tương tác dược động học trên lâm sàng giữa pregabalin với phenytoin, carbamazepine, acid valproic, lamotrigine, gabapentin, lorazepam, oxycodone, hoặc ethanol. Các phân tích dược động học chỉ ra rằng, thuốc điều trị đái tháo đường dạng uống, thuốc lợi tiểu, insulin, phenobarbital, tiagabine và topiramate không có tác động lâm sàng đáng kể nào tới độ thanh thải pregabalin.

Các thuốc tránh thai đường uống, norethisteron và/hoặc ethinyl oestradiol

Sử dụng đồng thời pregabalin với các thuốc tránh thai đường uống norethisteron và/hoặc ethinyl oestradiol không ảnh hưởng tới trạng thái ổn định dược động học của mỗi thuốc.

Các thuốc tác dụng trên hệ thần kinh trung ương

Pregabalin có thể làm tăng tác dụng của ethanol và lorazepam.

Theo kinh nghiệm hậu mãi, đã có báo cáo về suy hô hấp, hôn mê và tử vong ở những bệnh nhân dùng pregabalin và opioid và/hoặc các thuốc ức chế hệ thần kinh trung ương (CNS) khác. Pregabalin có tác dụng hiệp lực lên sự suy giảm chức năng vận động và nhận thức gây bởi oxycodon.

Người cao tuổi

Không có những nghiên cứu về tương tác dược lực học ở người tình nguyện cao tuổi. Các nghiên cứu chỉ được tiến hành ở người trưởng thành.

Tương kỵ

Do không có các nghiên cứu về tính tương kỵ của thuốc, không trộn lẫn thuốc này với các thuốc khác.

TÁC DỤNG KHÔNG MONG MUỐN CỦA THUỐC

Chương trình lâm sàng pregabalin tiến hành trên 8.900 bệnh nhân, trong đó có hơn 5.600 bệnh nhân thuộc các thử nghiệm mù đôi có đối chứng. Tác dụng không mong muốn phổ biến nhất được báo cáo là chóng mặt và ngủ gà. Tác dụng không mong muốn có mức độ từ nhẹ tới vừa. Trong các nghiên cứu có đối chứng, tỉ lệ ngừng thuốc do tác dụng không mong muốn là 12% ở bệnh nhân dùng pregabalin và 5% ở bệnh nhân dùng giả dược. Các phản ứng không mong muốn thông thường nhất dẫn đến ngừng thuốc là chóng mặt và ngủ gà.

Bảng 2 bên dưới gồm tất cả các tác dụng không mong muốn, mà tỉ lệ xảy ra là lớn hơn ở những bệnh nhân dùng giả dược và có hơn 1 bệnh nhân, được liệt kê theo các nhóm cơ quan và tần suất như sau: rất thường gặp (≥ 1/10); thường gặp (≥ 1/100 đến <1/10); ít gặp (≥ 1/1.000 đến <1/100); hiếm gặp (≥ 1/10.000 đến < 1/1.000); rất hiếm gặp (< 1/10.000); không rõ (không ước tính được từ các dữ liệu có sẵn). Trong mỗi nhóm, các tác dụng không mong muốn được trình bày theo thứ tự mức độ giảm dần.

Tác dụng không mong muốn được liệt kê có thể có liên quan tới bệnh lý đang mắc và/hoặc các thuốc cùng điều trị.

Trong điều trị giảm đau thần kinh trung ương do chấn thương cột sống, tác dụng không mong muốn trên hệ thần kinh trung ương đặc biệt là ngủ gà tăng lên (xem mục Cảnh báo và thận trọng khi dùng thuốc).

Tác dụng không mong muốn của thuốc được in nghiêng liệt kê ở bảng dưới thu được từ các báo cáo hậu mãi:

Bảng 2. Tác dụng không mong muốn

Hệ cơ quanTác dụng không mong muốn
Nhiễm trùng và ký sinh trùng
Thường gặpViêm mũi họng
Rối loạn máu và hệ bạch huyết
Ít gặpGiảm bạch cầu trung tính
Rối loạn hệ miễn dịch
Ít gặpQuá mẫn
Hiếm gặpPhù mạch, phản ứng dị ứng
Rối loạn chuyển hóa và dinh dưỡng
Thường gặpTăng thèm ăn
Ít gặpBiếng ăn, hạ đường huyết
Rối loạn tâm thần
Thường gặpTâm trạng phấn khích, lú lẫn, cáu gắt, mất phương hướng, mất ngủ, giảm ham muốn tình dục
Ít gặpẢo giác, cơn hoảng loạn, bồn chồn, lo âu, trầm cảm, tâm trạng chán nản, tâm trạng hưng phấn, gây hấn, buồn rầu rũ rượi, mất nhân cách, khó diễn đạt bằng lời nói, giấc mơ bất thường, tăng ham muốn tình dục, rối loạn cực khoái, thờ ơ
Hiếm gặpMất phản xạ có điều kiện, hành vi tự tử, ý định tự tử
Chưa biếtPhụ thuộc thuốc
Rối loạn hệ thần kinh
Rất thường gặpChóng mặt, buồn ngủ, nhức đầu
Thường gặpMất thăng bằng, phối hợp bất thường, run, rối loạn ngôn ngữ, mất trí nhớ, giảm trí nhớ, rối loạn tập trung, dị cảm, giảm cảm giác, buồn ngủ, rối loạn thăng bằng, thờ ơ
Ít gặpNgất, trạng thái sững sờ, rung giật cơ, mất ý thức, tăng động, rối loạn vận động, chóng mặt tư thế, run, rung giật nhãn cầu, rối loạn nhận thức, suy giảm tinh thần, rối loạn ngôn ngữ, giảm phản xạ, tăng cảm giác, cảm giác nóng bừng, mất vị giác, khó chịu
Hiếm gặpCo giật, loạn khứu giác, giảm chức năng vận động, khó viết, bệnh Parkinson
Rối loạn mắt
Thường gặpNhìn mờ, nhìn đôi
Ít gặpMất thị giác ngoại vi, rối loạn thị giác, sưng mắt, giảm trường nhìn, giảm thị lực, đau mắt, suy nhược thị lực, hoa mắt, khô mắt, tăng chảy nước mắt, kích ứng mắt
Hiếm gặpMất thị lực, viêm giác mạc, nhìn dao động, thay đổi thị giác chiều sâu, giãn đồng tử, lác mắt, chói mắt
Rối loạn tai và mê đạo
Thường gặpHoa mắt
Ít gặpTăng thính lực
Rối loạn tim
Ít gặpNhịp tim nhanh, block nhĩ thất độ 1, nhịp xoang chậm, suy tim sung huyết
Hiếm gặpKéo dài khoảng QT, nhịp xoang nhanh, loạn nhịp xoang
Rối loạn mạch
Ít gặpHạ huyết áp, tăng huyết áp, cơn nóng bừng, đỏ bừng, lạnh ngoại vi
Rối loạn hô hấp, ngực và trung thất
Ít gặpKhó thở, chảy máu cam, ho, nghẹt mũi, viêm mũi, ngáy, khô mũi
Hiếm gặpPhù phổi, thắt cổ họng
Chưa biếtSuy hô hấp
Rối loạn tiêu hóa
Thường gặpNôn, buồn nôn, táo bón, tiêu chảy, đầy hơi, trướng bụng, khô miệng
Ít gặpTrào ngược dạ dày thực quản, tăng tiết nước bọt, giảm vị giác
Hiếm gặpCổ trướng, viêm tụy, sưng lưỡi, khó nuốt
Rối loạn gan mật
Ít gặpTăng enzym gan (tăng ALT và AST)
Hiếm gặpVàng da
Rất hiếm gặpSuy gan, viêm gan
Rối loạn da và mô dưới da
Ít gặpBan dát sần, mày đay, nhiều mồ hôi, ngứa
Hiếm gặpHội chứng hoại tử da nhiễm độc (TEN), hội chứng Stevens-Johnson, toát mồ hôi lạnh
Rối loạn cơ xương và mô liên kết
Thường gặpChuột rút, đau khớp, đau lưng, đau chân tay, co thắt cổ tử cung
Ít gặpSưng khớp, đau cơ, co giật cơ bắp, đau cổ, cứng cơ
Hiếm gặpTiêu cơ vân
Rối loạn thận và tiết niệu
Ít gặpTiểu không kiểm soát, khó tiểu
Hiếm gặpSuy thận, thiểu niệu, bí tiểu
Rối loạn hệ sinh sản và tuyến vú
Thường gặpRối loạn cương dương
Ít gặpRối loạn chức năng tình dục, chậm xuất tinh, đau bụng kinh, đau ngực
Hiếm gặpMất kinh, vú tiết dịch, vú to, vú to ở đàn ông
Rối loạn toàn thân và tại vị trí sử dụng
Thường gặpPhù ngoại vi, phù, dáng đi bất thường, ngã, cảm giác say rượu, cảm giác khác thường, mệt mỏi
Ít gặpPhù toàn thân, phù mặt, tức ngực, đau, sốt, khát, ớn lạnh, suy nhược
Điều tra
Thường gặpTăng cân
Ít gặpTăng creatine phosphokinase huyết, tăng glucose huyết, giảm tiểu cầu, tăng creatinin huyết, giảm kali huyết, sụt cân
Hiếm gặpGiảm bạch cầu

Ngừng điều trị với pregabalin sau một khoảng thời gian điều trị ngắn hay dài có thể gây triệu chứng ngưng thuốc đã được quan sát thấy ở một số bệnh nhân. Các triệu chứng được mô tả như sau: mất ngủ, đau đầu, buồn nôn, lo âu, tiêu chảy, hội chứng cúm, co giật, lo lắng, trầm cảm, đau, nhiều mồ hôi, chóng mặt. Các triệu chứng này được cho là do phụ thuộc thuốc. Bệnh nhân nên được thông báo điều này trước khi bắt đầu điều trị. Liên quan tới việc dừng điều trị với pregabalin sau khoảng thời gian dài, các dữ liệu gợi ý rằng tỉ lệ và mức độ trầm trọng của các triệu chứng ngừng thuốc có thể liên quan tới liều dùng (xem mục Liều dùng, cách dùng và Cảnh báo và thận trọng khi dùng thuốc).

Bệnh nhân nhi

Dữ liệu an toàn của pregabalin được quan sát trong 5 nhóm nghiên cứu sử dụng pregabalin trên trẻ em bị động kinh cục bộ, có kèm hoặc không kèm theo động kinh thứ phát (nghiên cứu về tính an toàn và hiệu quả trong 12 tuần ở bệnh nhân từ 4 đến 16 tuổi, n=295; nghiên cứu về tính an toàn và hiệu quả trong 14 ngày ở bệnh nhân từ 1 tháng đến dưới 4 tuổi, n=175; nghiên cứu về dược động học và khả năng dung nạp, n=65; và hai nghiên cứu nhãn mở theo dõi độ an toàn trong 1 năm, n=54 và n=431) tương tự như dữ liệu an toàn quan sát thấy trong các nghiên cứu trên bệnh nhân người lớn bị động kinh. Các tác dụng có hại phổ biến nhất trong nghiên cứu 12 tuần khi điều trị với pregabalin là buồn ngủ, sốt, nhiễm trùng đường hô hấp trên, tăng thèm ăn, tăng cân và viêm mũi họng. Các tác dụng có hại phổ biến nhất trong nghiên cứu 14 ngày khi điều trị với pregabalin là buồn ngủ, nhiễm trùng đường hô hấp trên và sốt (xem mục Liều dùng, cách dùng, Tác dụng không mong muốn của thuốc và Đặc tính dược động học).

Thông báo ngay cho bác sĩ hoặc dược sĩ những phản ứng có hại gặp phải khi sử dụng thuốc.

QUÁ LIỀU VÀ CÁCH XỬ TRÍ

Trong các báo cáo hậu mãi, hầu hết các tác dụng không mong muốn được nhận thấy khi sử dụng quá liều pregabalin bao gồm ngủ gà, trạng thái lú lẫn, kích động, bồn chồn. Co giật cũng đã được báo cáo.

Trong rất hiếm trường hợp, có hôn mê.

Xử trí quá liều pregabalin bao gồm các biện pháp hỗ trợ thông thường và có thể thẩm tách máu nếu cần thiết (xem mục Liều dùng, cách dùng, Bảng 1).

ĐẶC TÍNH DƯỢC LỰC HỌC

Nhóm dược lý: Thuốc chống động kinh, thuốc chống động kinh khác

Mã ATC: N03AX16

Hoạt chất chính, pregabalin, gamma-aminobutyric acid (GABA) analogue ((S)-3- (aminomethyl)-5-methylhexanoic acid).

Cơ chế tác dụng

Pregabalin gắn với 1 tiểu đơn vị phụ (α2-δ protein) của kênh calci cổng điện thế trong hệ thần kinh trung ương.

Tính an toàn và hiệu quả trên lâm sàng

Đau thần kinh

Hiệu quả của thuốc đã được chỉ ra từ các nghiên cứu trong bệnh thần kinh do đái tháo đường, chứng đau thần kinh sau zona và chấn thương cột sống. Hiệu quả của thuốc chưa được nghiên cứu trong các kiểu đau thần kinh khác.

Pregabalin đã được nghiên cứu trong 10 thử nghiệm lâm sàng có đối chứng trong 13 tuần với liều dùng 2 lần/ngày và 8 tuần với liều dùng 3 lần/ngày. Nhìn chung, các số liệu về an toàn và hiệu quả của chế độ liều 2 lần/ngày và 3 lần/ngày là tương tự nhau.

Trong các thử nghiệm lâm sàng trong 12 tuần cho cả 2 trường hợp đau thần kinh trung ương và ngoại biên, đã quan sát có giảm đau trong tuần thứ nhất và được duy trì trong suốt thời gian điều trị.

Trong các thử nghiệm lâm sàng có đối chứng trong đau thần kinh ngoại biên, 35% bệnh nhân được điều trị với pregabalin và 18% bệnh nhân được điều trị với giả dược đã đạt được mức cải thiện 50% ở điểm đau. Đối với bệnh nhân không bị buồn ngủ, mức cải thiện về điểm đau đó cũng đã được thấy ở 33% bệnh nhân điều trị với pregabalin và 18% bệnh nhân dùng giả dược. Với bệnh nhân từng có buồn ngủ tỉ lệ đáp ứng là 48% đối với pregabalin và 16% đối với giả dược.

Trong một thử nghiệm lâm sàng có đối chứng trong đau thần kinh trung ương, 22% bệnh nhân được điều trị với pregabalin và 7% bệnh nhân dùng giả dược đã đạt được mức cải thiện 50% ở điểm đau.

Động kinh

Điều trị hỗ trợ.

Pregabalin đã được nghiên cứu trong 3 thử nghiệm lâm sàng có đối chứng trong 12 tuần với liều dùng 2 lần/ngày hoặc 3 lần/ngày. Nhìn chung, các số liệu về an toàn và hiệu quả của các chế độ liều này là tương tự nhau.

Đã quan sát thấy có giảm tần suất các cơn động kinh ở tuần thứ nhất.

Bệnh nhân nhi

Tính an toàn và hiệu quả của pregabalin trong điều trị hỗ trợ bệnh động kinh ở bệnh nhân nhi dưới 12 tuổi và trẻ vị thành niên vẫn chưa được thiết lập. Các tác động có hại quan sát thấy trong một nghiên cứu dược động học và khả năng dung nạp ở nhóm bệnh nhân từ 3 tháng tuổi đến 16 tuổi (n=65) bị động kinh cục bộ là tương tự với các tác động có hại quan sát thấy ở người lớn.

Kết quả của một nghiên cứu có đối chứng với giả dược trong 12 tuần trên 295 bệnh nhi từ 4 đến 16 tuổi và một nghiên cứu có đối chứng với giả dược trong 14 ngày trên 175 bệnh nhi từ 1 tháng đến dưới 4 tuổi được thực hiện để đánh giá tính an toàn và hiệu quả của pregabalin như là liệu pháp bổ trợ để điều trị các cơn động kinh khởi phát cục bộ và hai nghiên cứu an toàn nhãn mở theo dõi độ an toàn trong 1 năm ở 54 và 431 bệnh nhi tương ứng, từ 3 tháng đến 16 tuổi bị động kinh, cho thấy rằng các tác động có hại như sốt và nhiễm trùng đường hô hấp trên xảy ra với tần suất cao hơn ở người lớn (xem mục Liều dùng, cách dùng, Tác dụng không mong muốn của thuốc và Đặc tính dược động học).

Trong nghiên cứu có đối chứng với giả dược trong 12 tuần, bệnh nhân nhi (4 – 16 tuổi) được chỉ định dùng pregabalin 2,5 mg/kg/ngày (tối đa, 150 mg/ngày), pregabalin 10 mg/kg/ngày (tối đa, 600 mg/ngày) hoặc giả dược. Tỷ lệ bệnh nhân giảm ít nhất 50% các cơn động kinh cục bộ so với tỷ lệ chuẩn là 40,6% bệnh nhân được điều trị với pregabalin 10 mg/kg/ngày (p = 0,0068 so với giả dược), 29,1% bệnh nhân được điều trị bằng pregabalin 2,5 mg/kg/ngày (p = 0,2600 so với giả dược) và 22,6% bệnh nhân dùng giả dược.

Trong nghiên cứu có đối chứng giả dược trong 14 ngày, bệnh nhi (1 tháng tuổi đến dưới 4 tuổi) được chỉ định dùng pregabalin 7 mg/kg/ngày, pregabalin 14 mg/kg/ngày hoặc giả dược. Tần suất co giật trung bình trong 24 giờ tại thời điểm ban đầu và tại lần thăm khám cuối cùng lần lượt là 4,7 và 3,8 đối với pregabalin 7 mg/kg/ngày, 5,4 và 1,4 đối với pregabalin 14 mg/kg/ngày và 2,9 và 2,3 đối với giả dược. Pregabalin 14 mg/kg/ngày làm giảm đáng kể tần suất cơn khởi phát cục bộ được chuyển đổi log so với giả dược (p=0,0223); pregabalin 7 mg/kg/ngày không cho thấy sự cải thiện so với giả dược.

Trong một nghiên cứu có đối chứng với giả dược trong 12 tuần ở những đối tượng bị động kinh co cứng – co giật toàn thể nguyên phát (PGTC), 219 đối tượng (từ 5 – 65 tuổi, trong đó 66 đối tượng từ 5 – 16 tuổi) được chỉ định dùng pregabalin 5 mg/kg/ngày (tối đa 300 mg/ngày), 10 mg/kg/ngày (tối đa 600 mg/ngày) hoặc giả dược như một liệu pháp bổ trợ. Tỷ lệ đối tượng giảm ít nhất 50% tỷ lệ động kinh PGTC lần lượt là 41,3%, 38,9% và 41,7% đối với pregabalin 5 mg/kg/ngày, pregabalin 10 mg/kg/ngày và giả dược.

Đơn trị liệu (ở bệnh nhân mới mắc)

Pregabalin đã được nghiên cứu trong một thử nghiệm lâm sàng có đối chứng trong 56 tuần với liều 2 lần/ngày. Pregabalin không đạt được tính ‘không thấp kém hơn’ so với lamotrigine dựa trên kết quả không có cơn động kinh trong vòng 6 tháng. Pregabalin và lamotrigine tương tự nhau về tính an toàn và được dung nạp tốt.

Rối loạn lo âu lan tỏa

Pregabalin đã được nghiên cứu trong 6 thử nghiệm lâm sàng có đối chứng trong 4 – 6 tuần điều trị, một nghiên cứu trên bệnh nhân cao tuổi trong 8 tuần và một nghiên cứu ngăn ngừa tái phát dài hạn cùng với một giai đoạn ngăn ngừa tái phát mù đôi trong 6 tháng điều trị.

Đã quan sát thấy có giảm các triệu chứng của rối loạn lo âu lan tỏa theo thang đánh giá độ lo âu Hamilton (HAM-A) trong tuần thứ nhất.

Trong các nghiên cứu lâm sàng có đối chứng (trong 4 – 8 tuần), 52% bệnh nhân điều trị bằng pregabalin và 38% bệnh nhân dùng giả dược đã đạt mức cải thiện ít nhất là 50% tổng số điểm theo thang đánh giá độ lo âu HAM-A từ trước khi điều trị cho tới khi kết thúc điều trị.

Trong các nghiên cứu có kiểm soát, tỉ lệ bệnh nhân được điều trị với pregabalin được báo cáo nhìn mờ cao hơn so với bệnh nhân được điều trị bằng giả dược, tác dụng có hại này sẽ hết khi tiếp tục sử dụng thuốc.

Thử nghiệm nhãn khoa (kể cả thử thị lực, trường nhìn, và soi võng mạc) đã được tiến hành trên 3.600 bệnh nhân trong các thử nghiệm lâm sàng có đối chứng. Ở các bệnh nhân này, thị lực giảm ở 6,5% bệnh nhân điều trị với pregabalin và 4,8% bệnh nhân dùng giả dược. Thay đổi trường nhìn được phát hiện ở 12,4% bệnh nhân điều trị với pregabalin và 11,7% bệnh nhân dùng giả dược. Thay đổi võng mạc được quan sát thấy ở 1,7% bệnh nhân điều trị với pregabalin và 2,1% bệnh nhân dùng giả dược.

ĐẶC TÍNH DƯỢC ĐỘNG HỌC

Dược động học ở trạng thái ổn định của pregabalin giống nhau trên những người tình nguyện khỏe mạnh, các bệnh nhân động kinh đang dùng thuốc chống động kinh và các bệnh nhân đau mạn tính.

Hấp thu

Pregabalin được hấp thu nhanh khi uống lúc đói, nồng độ đỉnh trong huyết tương đạt được sau 1 giờ trong cả hai chế độ dùng đơn liều và đa liều. Sinh khả dụng đường uống của pregabalin khoảng ≥ 90% và không phụ thuộc vào liều dùng. Khi sử dụng nhắc lại, trạng thái ổn định đạt được trong khoảng 24 – 48 giờ. Tỉ lệ hấp thu của pregabalin giảm khi dùng cùng thức ăn dẫn đến Cmax giảm khoảng 25 – 30% và Tmax bị chậm khoảng 2,5 giờ. Tuy nhiên, dùng pregabalin cùng với thức ăn không có ảnh hưởng lâm sàng đáng kể nào đến mức độ hấp thu pregabalin.

Phân bố

Trong các nghiên cứu tiền lâm sàng, pregabalin dễ dàng đi qua hàng rào máu não ở chuột nhắt, chuột cống và khỉ. Pregabalin qua được nhau thai ở chuột cống và xuất hiện trong sữa chuột. Ở người, thể tích phân bố biểu kiến của pregabalin sau khi dùng đường uống là khoảng 0,56 lít/kg. Pregabalin không gắn với protein huyết tương.

Chuyển hóa

Pregabalin được chuyển hóa không đáng kể trong cơ thể người. Sau khi dùng pregabalin được đánh dấu phóng xạ, khoảng 98% hoạt tính phóng xạ được tìm thấy trong nước tiểu là pregabalin ở dạng không đổi. Dẫn xuất N-methylat của pregabalin, chất chuyển hóa chính của pregabalin được tìm thấy trong nước tiểu, chiếm khoảng 0,9% liều dùng. Trong các nghiên cứu tiền lâm sàng, không có dấu hiệu nào về sự biến đổi pregabalin dạng đồng phân tả truyền thành đồng phân hữu truyền.

Thải trừ

Pregabalin được thải trừ khỏi hệ tuần hoàn chủ yếu do bài tiết qua thận dưới dạng không đổi.

Nửa đời thải trừ trung bình của pregabalin là 6,3 giờ. Độ thanh thải pregabalin huyết tương và độ thanh thải thận tỉ lệ với độ thanh thải creatinin (xem mục Đặc tính dược động học – Suy thận).

Cần phải điều chỉnh liều cho các bệnh nhân suy thận hoặc phải thẩm tách máu (xem mục Liều dùng, cách dùng, Bảng 1).

Tính tuyến tính/ không tuyến tính

Dược động học của pregabalin là tuyến tính trong khoảng liều khuyến cáo hàng ngày. Độ biến thiên dược động học giữa các đối tượng của pregabalin là thấp (< 20%). Các đặc tính dược động học của chế độ đa liều có thể dự đoán được từ các dữ liệu của đơn liều. Vì vậy, không cần thiết phải kiểm tra định kỳ nồng độ pregabalin trong huyết tương.

Giới tính

Các thử nghiệm lâm sàng đã cho thấy giới tính không có ảnh hưởng lâm sàng đáng kể nào đến nồng độ của pregabalin trong huyết tương.

Suy thận

Độ thanh thải pregabalin tỉ lệ thuận với độ thanh thải creatinin. Thêm vào đó, pregabalin được loại bỏ hiệu quả khỏi huyết tương qua thẩm tách máu (sau 4 giờ thẩm tách máu nồng độ của pregabalin trong huyết tương giảm khoảng 50%). Bởi vì thải trừ qua thận là đường thải trừ chính, cần phải giảm liều cho bệnh nhân suy thận và dùng liều bổ sung cho bệnh nhân thẩm tách máu (xem mục Liều dùng, cách dùng, Bảng 1).

Suy gan

Chưa có nghiên cứu dược động học cụ thể nào được tiến hành trên bệnh nhân suy gan. Vì pregabalin đuợc chuyển hóa không đáng kể và thải trừ chủ yếu qua nước tiểu dưới dạng không đổi, nên bệnh nhân suy gan được cho là sẽ không có thay đổi đáng kể về nồng độ của pregabalin trong huyết tương.

Bệnh nhân nhi

Dược động học của pregabalin được đánh giá trên các bệnh nhân nhi có động kinh (các nhóm: 1 tháng tới 23 tháng tuổi; 2 tuổi tới 6 tuổi; 7 tuổi tới 11 tuổi; 12 tuổi tới 16 tuổi) ở các liều 2,5; 5; 10 và 15 mg/kg/ngày trong một nghiên cứu dược động học và khả năng dung nạp của pregabalin.

Sau khi dùng pregabalin lúc đói ở các bệnh nhân nhi, nhìn chung thời gian đạt được nồng độ đỉnh trong huyết tương là tương tự nhau giữa các nhóm tuổi và là 0,5 giờ tới 2 giờ.

Các chỉ số Cmax và AUC tăng tuyến tính với tăng liều dùng ở các nhóm tuổi. AUC thấp hơn 30% ở nhóm bệnh nhi dưới 30 kg, thấp hơn 43% ở nhóm bệnh nhân nhi trên 30 kg, do sự tăng khối lượng cơ thể điều chỉnh độ thanh thải.

Nửa đời thải trừ của pregabalin trung bình 3 – 4 giờ ở bệnh nhân nhi tới 6 tuổi và 4 – 6 giờ ở bệnh nhân nhi từ 7 tuổi trở lên.

Các phân tích dược động học ở bệnh nhân nhi chỉ ra rằng, độ thanh thải creatinin là yếu tố quan trọng trong độ thanh thải pregabalin đường uống, khối lượng cơ thể là yếu tố quan trọng trong thể tích phân bố pregabalin dùng đường uống và các mối liên hệ này là tương tự nhau ở cả trẻ em và người lớn.

Dược động học ở những bệnh nhân nhi dưới 3 tháng tuổi chưa được nghiên cứu (xem mục Liều dùng, cách dùng, Tác dụng không mong muốn của thuốc).

Người cao tuổi

Độ thanh thải pregabalin có xu hướng giảm khi tuổi cao. Mức giảm của độ thanh thải pregabalin dùng đường uống luôn đi đôi với mức giảm của độ thanh thải creatinin khi tuổi cao. Có thể cần giảm liều pregabalin cho các bệnh nhân tổn thương chức năng thận do tuổi cao (xem mục Liều dùng, cách dùng, Bảng 1).

Phụ nữ cho con bú

Dược động học của liều pregabalin 150 mg dùng 12 giờ/lần (liều 300 mg hàng ngày) đã được khảo sát ở 10 phụ nữ đang có tiết sữa, các phụ nữ này đang ở giai đoạn sau khi sinh tối thiểu là 12 tuần. Sự tiết sữa ít ảnh hưởng hoặc không có ảnh hưởng đến dược động học của pregabalin. Pregabalin được tiết vào sữa với nồng độ ổn định trung bình vào khoảng 76% so với nồng độ thuốc trong huyết tương của người mẹ. Ước tính liều pregabalin trẻ nhận từ sữa mẹ (giả sử lượng sữa tiêu thụ trung bình là 150 ml/kg/ngày) của người mẹ dùng liều 300 mg/ngày hoặc liều tối đa 600 mg/ngày tương ứng là 0,31 mg/kg/ngày hoặc 0,62 mg/kg/ngày. Các liều này tính theo mg/kg sẽ là khoảng 7% tổng liều hằng ngày của người mẹ.

DỮ LIỆU AN TOÀN TIỀN LÂM SÀNG

Trong các nghiên cứu thường quy về an toàn dược lý trên động vật, pregabalin được dung nạp tốt ở liều điều trị. Trong các nghiên cứu về độc tính với liều nhắc lại trên chuột cống và khỉ, đã quan sát thấy các ảnh hưởng đến hệ thần kinh trung ương, bao gồm giảm vận động, tăng vận động và mất khả năng điều hòa cơ. Thường quan sát thấy tăng tỉ lệ teo võng mạc ở chuột cống già bị bạch tạng sau khi dùng pregabalin dài ngày ở liều ≥ 5 lần liều trung bình cho người ở liều lâm sàng khuyến cáo tối đa.

Pregabalin không gây quái thai trên chuột nhắt, chuột cống và thỏ. Độc tính gây quái thai trên chuột cống và thỏ chỉ xảy ra khi dùng liều cao hơn liều sử dụng trên người. Trong các nghiên cứu độc tính trước hoặc sau khi sinh, pregabalin gây độc tính lên sự tăng trưởng con non của chuột cống ở liều lớn hơn 2 lần liều tối đa trên người.

Các tác động có hại trên khả năng sinh sản ở chuột cống đực và chuột cống cái chỉ được quan sát thấy ở mức phơi nhiễm đủ vượt quá mức điều trị. Các tác động có hại trên cơ quan sinh sản ở giống đực và các chỉ số về tinh trùng là có thể hồi phục và chỉ xảy ra ở mức phơi nhiễm đủ vượt quá mức điều trị hoặc có liên quan đến quá trình thoái hóa tự phát cơ quan sinh sản ở chuột cống đực. Do đó, các tác động này được coi là ít hoặc không có ý nghĩa lâm sàng.

Pregabalin không gây độc cho gen dựa trên các thử nghiệm in vitro và in vivo.

Các nghiên cứu 2 năm về khả năng gây ung thư của pregabalin được tiến hành trên chuột cống và chuột nhắt. Không phát hiện được khối u nào trên chuột cống dùng liều gấp 24 lần liều trung bình trên người với liều dùng lâm sàng khuyến cáo tối đa là 600 mg/ngày. Trên chuột nhắt, với liều dùng tương tự liều dùng trên người, không thấy có sự tăng khối u nào, nhưng có ghi nhận được tăng tỉ lệ u mạch máu ở liều cao hơn. Cơ chế không gây độc cho gen của sự tạo thành khối u do pregabalin gây ra trên chuột nhắt bao gồm các thay đổi về tiểu cầu và đi liền với tăng sinh tế bào nội mạc. Các thay đổi về tiểu cầu này không xảy ra trên chuột cống và người theo các dữ liệu lâm sàng ngắn hạn và các dữ liệu lâm sàng dài hạn còn hạn chế. Không có bằng chứng nào về các nguy cơ liên quan trên người.

Trên chuột cống chưa trưởng thành, các loại độc tính không khác nhau về chất so với trên chuột trưởng thành. Tuy nhiên, chuột cống chưa trưởng thành nhạy cảm hơn nhiều. Ở liều điều trị, có các dấu hiệu lâm sàng của hệ thần kinh trung ương là tăng cường hoạt động và nghiến răng và một số thay đổi về tăng trưởng (ức chế tăng cân nhất thời). Các tác dụng trên chu kỳ động dục được quan sát thấy ở liều cao gấp 5 lần liều sử dụng trên người. Việc giảm phản xạ nghe đột ngột được thấy trên chuột cống chưa trưởng thành từ 1 – 2 tuần sau khi dùng liều > 2 lần liều điều trị trên người. 9 tuần sau khi dùng thuốc, không còn thấy các tác dụng này nữa.

QUI CÁCH ĐÓNG GÓI: Hộp 3 vỉ x 10 viên.

BẢO QUẢN: Giữ thuốc nơi khô ráo, nhiệt độ không quá 30oC.

HẠN DÙNG: 36 tháng kể từ ngày sản xuất.

TIÊU CHUẨN CHẤT LƯỢNG: TCCS.

Liều dùng

Khoảng liều dùng từ 150 – 600 mg mỗi ngày được chia thành 2 – 3 lần.

Đau thần kinh

Điều trị với pregabalin có thể bắt đầu với liều 150 mg mỗi ngày, chia thành 2 – 3 lần.

Tùy theo đáp ứng và khả năng dung nạp của từng bệnh nhân, liều dùng có thể tăng đến 300 mg/ngày sau khoảng thời gian 3 – 7 ngày, và nếu cần, có thể tăng đến liều tối đa 600 mg/ngày sau khoảng 7 ngày điều trị thêm.

Động kinh

Có thể bắt đầu điều trị bằng pregabalin với liều 150 mg mỗi ngày, chia thành 2 – 3 lần.

Tùy theo đáp ứng và khả năng dung nạp của từng bệnh nhân, liều dùng có thể tăng đến 300 mg/ngày sau 1 tuần. Có thể tăng đến liều tối đa 600 mg/ngày sau 1 tuần điều trị thêm.

Rối loạn lo âu lan tỏa

Khoảng liều dùng từ 150 – 600 mg mỗi ngày được chia thành 2 – 3 lần. Cần thường xuyên đánh giá lại nhu cầu điều trị.

Có thể bắt đầu điều trị bằng pregabalin với liều 150 mg/ngày. Dựa trên đáp ứng và khả năng dung nạp của từng bệnh nhân, có thể tăng liều đến 300 mg/ngày sau 1 tuần điều trị. Sau khi điều trị thêm 1 tuần liều dùng có thể tăng đến 450 mg/ngày. Có thể tăng đến liều tối đa 600 mg/ngày sau 1 tuần điều trị thêm.

Ngưng sử dụng pregabalin

Theo thực nghiệm lâm sàng, nếu nên ngưng dùng pregabalin, nên ngừng từ từ trong tối thiểu một tuần, không phụ thuộc vào chỉ định (xem mục Cảnh báo và thận trọng khi dùng thuốc và Tác dụng không mong muốn của thuốc).

Bệnh nhân suy thận

Pregabalin được thải trừ từ hệ tuần hoàn chung qua sự bài tiết ở thận dưới dạng không đổi. Bởi vì độ thanh thải pregabalin tỉ lệ thuận với độ thanh thải creatinin (xem mục Đặc tính dược động học), nên việc giảm liều trên các bệnh nhân tổn thương chức năng thận phải tùy theo từng cá nhân và theo độ thanh thải creatinin (ClCr), được trình bày trong bảng 1, sử dụng công thức dưới đây:

Pregabalin được loại bỏ hiệu quả khỏi huyết tương bằng thẩm tách máu (50% thuốc trong 4 giờ). Với các bệnh nhân đang phải thẩm tách máu, liều hàng ngày của pregabalin cần được điều chỉnh tùy theo chức năng thận. Bên cạnh liều dùng hàng ngày, nên dùng một liều bổ sung ngay sau mỗi 4 giờ thẩm tách máu (xem Bảng 1).

Bảng 1. Điều chỉnh liều pregabalin theo chức năng thận

Độ thanh thải creatinin (ClCr) (ml/phút)Tổng liều pregabalin hàng ngày*Chế độ liều
Liều khởi đầu (mg/ngày)Liều tối đa (mg/ngày)
≥ 60150600BID hoặc TID
≥ 30 – < 6075300BID hoặc TID
≥ 15 – < 3025 – 50150Ngày 1 lần hoặc BID
< 152575Ngày 1 lần
Liều bổ trợ sau khi thẩm tách máu (mg)
25100Liều đơn +

TID: Chia thành 3 lần/ngày

BID: Chia thành 2 lần/ngày

* Tổng liều hàng ngày (mg/ngày) cần chia theo chế độ liều nói trên để cung cấp mg/liều.

+ Liều bổ sung là liều đơn thêm vào.

Bệnh nhân suy gan

Không cần chỉnh liều trên bệnh nhân suy gan (xem mục Đặc tính dược động học).

Trẻ em

Tính an toàn và hiệu quả của pregabalin ở trẻ em dưới 12 tuổi và thiếu niên (12 – 17 tuổi) chưa được thiết lập. Các dữ liệu hiện có được mô tả ở mục Tác dụng không mong muốn của thuốc, Đặc tính dược lực học và Đặc tính dược động học, nhưng không khuyến cáo dùng thuốc cho nhóm bệnh nhân này.

Người cao tuổi

Người cao tuổi có thể cần phải giảm liều pregabalin do chức năng thận suy giảm (xem mục Đặc tính dược động học).

Cách dùng

Pregabalin có thể dùng cùng hoặc không cùng với thức ăn.

Pregabalin chỉ dùng đường uống.

CHỈ ĐỊNH

Đau thần kinh

Pregabalin được chỉ định trong điều trị đau thần kinh ngoại biên và trung ương ở người lớn.

Động kinh

Pregabalin được chỉ định như liệu pháp bổ trợ thêm vào liệu pháp điều trị động kinh cục bộ ở người lớn, có kèm hoặc không kèm theo động kinh thứ phát.

Rối loạn lo âu lan tỏa

Pregabalin được chỉ định điều trị rối loạn lo âu lan tỏa (GAD) ở người lớn.

CHỐNG CHỈ ĐỊNH

Mẫn cảm với pregabalin hoặc bất kỳ thành phần nào của thuốc.